Đời sống

Bí mật đằng sau tên gọi Sài Gòn: Do vị tướng lẫy lừng khai sinh, tên gọi lần đầu xuất hiện khi nào?

Sài Gòn – hai tiếng thân quen gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, là biểu tượng của một đô thị lớn, năng động, hiện đại nhưng vẫn lưu giữ chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa đặc trưng.

Theo Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Hội đồng Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh), từ cuối thế kỷ XVI, các lớp lưu dân người Việt đã bắt đầu hành trình vào phương Nam bằng đường thủy. Bên cạnh đó, một bộ phận cư dân khác di chuyển lên vùng kinh đô của Chân Lạp hoặc sang Ayuthia của Xiêm, hình thành những cộng đồng cư trú ban đầu.

Trong giai đoạn đầu, do chưa có sự phân biệt rõ ràng về sắc tộc, người Việt đến vùng đất Sài Gòn thường được gọi chung là người “Man”. Với kinh nghiệm lâu đời trong trồng lúa nước, cư dân Việt đã sớm tổ chức sản xuất theo hướng thích ứng với điều kiện tự nhiên: người Việt đảm nhận khai phá ruộng thấp, nhiều cỏ (thảo điền), trong khi cư dân bản địa canh tác trên ruộng cao, gò, giồng (sơn điền). Sự phân công này góp phần tạo nên tính cộng cư và hòa hợp trong khai khẩn đất đai.

sai-gon-3
Thuyền chiến của triều Nguyễn trên sông Sài Gòn thế kỷ 18, tranh vẽ của người Pháp.

Từ cuối thế kỷ XVI đến gần hết thế kỷ XVII, lưu dân Việt Nam từng bước chinh phục thiên nhiên, khai phá rừng hoang, mở rộng ruộng đất bằng các phương thức lao động thủ công, gắn bó lâu dài với ruộng đồng, vườn tược và coi đó là nền tảng sinh tồn.

Nhiều tài liệu cho thấy, trước năm 1674, lưu dân Việt đã hiện diện và lập ấp trên địa bàn Sài Gòn. Đến thời điểm này, Sài Gòn có thể đã trở thành một khu dân cư, thị trấn tương đối quan trọng, trong đó việc quản lý chủ yếu do cộng đồng lưu dân tự đảm trách.

Bước ngoặt lớn diễn ra vào mùa xuân, tháng Hai năm Mậu Dần (1698), khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Trấn thủ dinh Bình Khang, vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu dẫn quân vào kinh lược vùng Đồng Nai – Gia Định. Đây là lần đầu tiên chính quyền Đàng Trong tổ chức thiết lập bộ máy quản lý hành chính chính thức tại khu vực này. Vị tướng này cũng chính là người đã "khai sinh ra mảnh đất Sài Gòn".

Nguyễn Hữu Cảnh tiến hành khảo sát địa hình, điều kiện tự nhiên và đời sống cư dân, sau đó phân định ranh giới, lập đơn vị hành chính, bổ nhiệm quan lại, tổ chức hệ thống đồn trấn, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý và bảo vệ vùng đất mới.

Theo đó, ông lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên (sau là tỉnh Biên Hòa), địa bàn tương ứng với các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương và một phần Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thành phố Thủ Đức); Huyện Tân Bình, đặt dinh Phiên Trấn (sau là tỉnh Gia Định), địa bàn gồm Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, phần lớn tỉnh Long An và một phần tỉnh Tiền Giang.

Mỗi huyện chia thành bốn tổng. Cụ thể, huyện Phước Long gồm: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An; huyện Tân Bình gồm: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận Cách (đến triều Gia Long đổi thành Thuận An).

sai-gon-1
Đường xe lửa Sài Gòn - Gò Vấp năm 1910.

Sau khi phủ Gia Định được thiết lập, Chúa Nguyễn tiếp tục ban hành chính sách chiêu mộ dân nghèo, dân lưu tán từ các vùng Nam Bố Chính trở vào Nam đến khai khẩn, lập nghiệp. Nhờ chính sách tương đối mềm dẻo, nhân hậu, dân cư ngày càng đông đúc, đời sống từng bước ổn định, mở ra quá trình khai phá và phát triển lâu dài của vùng đất Nam Bộ.

Dưới thời Pháp thuộc, ngày 8/1/1877, Tổng thống Pháp – Thống chế De Mac Mahon ký Sắc lệnh thành lập Thành phố Sài Gòn. Sắc lệnh do Phó Đô đốc, Thượng nghị sĩ, Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa L. Fourichon ký phó thự và được Thống soái Nam Kỳ Duperré công bố ngày 16/5/1877.

sai-gon-4
Logo Sài Gòn năm 1870. Khi chiếm Sài Gòn, người Pháp đã sáng tác ra logo này. Hình ảnh hai con cọp trong logo thể hiện đây là vùng đất hoang sơ. Nhưng dòng chữ Latinh Paulatim Crescam có nghĩa là : “Cứ từ từ, tôi sẽ phát triển”. Hình ảnh con tàu hơi nước ở giữa logo cho biết đây là vùng đất nhiều kênh rạch. Phía trên có vương miện 5 cánh như thông báo Sài Gòn sẽ giao thương với năm châu bốn biển.

Đây được xem là bản hiến chương đầu tiên của Thành phố Sài Gòn, gồm 9 chương, 78 điều, quy định tổ chức và quản lý hành chính đô thị. Từ đây, Sài Gòn chính thức được xác lập tư cách pháp lý là một thành phố. Thống soái Nam Kỳ bổ nhiệm ông Lamy làm Đốc lý đầu tiên của Sài Gòn. Tính đến năm 1931, trước khi hình thành Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, thành phố đã trải qua 25 đời Đốc lý.

sai-gon-2
Con đường nối Sài Gòn - Chợ Lớn vào thế kỷ 19, thuở ấy còn rất hoang sơ, nay là đường Nguyễn Trãi

Sau khi đất nước thống nhất, ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, Quốc hội thông qua nghị quyết quyết định: Lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc kỳ nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh.

Quốc huy hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng 5 cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng cưa và dòng chữ “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Thủ đô là Hà Nội.

Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.

Đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh là TPHCM.