4 người Việt nổi danh trong lịch sử Trung Quốc: Số 2 là người góp công xây dựng Tử Cấm Thành
Trong lịch sử Việt Nam, không ít nhân vật được nhắc đến không chỉ bởi những đóng góp trong nước mà còn bởi dấu ấn họ để lại ở Trung Quốc.
Lý Ông Trọng và câu chuyện đánh Hung Nô
Lý Ông Trọng, tên thật là Lý Thân, được xem là nhân vật truyền thuyết sống vào cuối thời Hùng Duệ Vương, đầu thời An Dương Vương, quê ở làng Chèm, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay.
Tương truyền, vào thời Hùng Vương thứ 18, Lý Thân từng giữ một chức nhỏ ở huyện ấp. Ông nổi tiếng cương trực, khỏe mạnh và thương dân. Có lần chứng kiến một viên lính huyện đánh đập dân phu, ông tức giận đánh chết người này và bị triều đình kết án. Tuy nhiên, nhà vua nhận thấy ông có tài nên không nỡ xử tử. Sau đó, Lý Thân rời chức vụ để đi học ở phương xa.
Đến thời An Dương Vương, ông trở thành một vị tướng và được cử sang Tần làm sứ giả.
Khi ấy, biên giới phía Bắc của nhà Tần thường xuyên bị Hung Nô quấy phá. Tần Thủy Hoàng dù đã cho xây dựng Vạn Lý Trường Thành nhưng vẫn chưa thể chấm dứt tình trạng này. Biết Lý Ông Trọng là người có tài, vua Tần mời ông ở lại giúp quân Tần chống Hung Nô và phong làm Vạn Tín Hầu.

Theo truyền thuyết, Lý Ông Trọng được giao trấn giữ Lâm Thao, nay thuộc Cam Túc, Trung Quốc. Quân Hung Nô nhiều lần kéo đến nhưng đều bị đánh bại, từ đó không dám tiếp tục xâm phạm khu vực biên giới nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng đánh giá cao tài năng của ông, ban thưởng hậu hĩnh và thậm chí muốn giữ ông ở lại lâu dài. Tuy nhiên, Lý Ông Trọng nhớ quê nên xin trở về Âu Lạc.
Sau khi biết ông đã rời Tần, Hung Nô lại xuất hiện. Vua Tần sai người sang Âu Lạc mời ông trở lại nhưng vua Thục nói rằng Lý Ông Trọng đã qua đời.
Nhà Tần sau đó được cho là đã đúc một pho tượng đồng khổng lồ mô phỏng hình dáng Lý Ông Trọng, đặt tại cửa Kim Mã ở kinh thành Hàm Dương. Tượng được truyền rằng có thể chứa nhiều người bên trong và có cơ chế khiến tay chân chuyển động. Nhìn thấy pho tượng từ xa, quân Hung Nô tưởng Lý Ông Trọng trở lại nên không dám tiến quân.
Từ câu chuyện này, người phương Bắc về sau được cho là dùng tên “Ông Trọng” để chỉ những pho tượng có kích thước lớn.
Nguyễn An và công trình Tử Cấm Thành
Một nhân vật khác có nguồn gốc Việt Nam được nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc là Nguyễn An, người được cho là giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh.
Theo Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Đôn, Nguyễn An quê ở vùng Hà Đông. Ông được mô tả là người có năng khiếu đặc biệt về tính toán và kiến trúc. Từ khi còn trẻ, Nguyễn An đã tham gia các nhóm thợ xây dựng cung điện dưới thời Trần.
Năm 1406, quân Minh tiến đánh nhà Hồ và đưa cha con Hồ Quý Ly về Trung Quốc. Một năm sau, nhà Minh ban chiếu tìm kiếm những người có học vấn, thợ giỏi và thanh niên khỏe mạnh tại nước ta để đưa về phục vụ. Nguyễn An nằm trong số những người bị đưa sang Trung Quốc.
Sau đó, ông được đưa vào đội ngũ hoạn quan. Khi nhà Minh tiến hành xây dựng Bắc Kinh làm kinh đô, tài năng về kiến trúc và khả năng tính toán của Nguyễn An được chú ý. Ông được giao tham gia chỉ đạo việc xây dựng Tử Cấm Thành.
Theo những thông tin được dẫn lại, ban đầu một số quan lại Bộ Công không phục người phụ trách có xuất thân từ phương Nam. Tuy nhiên, khả năng tính toán và tổ chức công việc của Nguyễn An khiến họ dần chấp nhận sự chỉ đạo của ông.

Tử Cấm Thành sau đó trở thành một quần thể kiến trúc đồ sộ, với diện tích khoảng 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng theo số liệu được đề cập.
Một số ý kiến được dẫn lại cho rằng công trình có những nét tương đồng với tư duy kiến trúc Việt Nam. GS Trần Ngọc Thêm từng đề cập nguyên tắc “tiền triều hậu thị”, tức khu vực cung điện ở phía trước và chợ ở phía sau. Hình dáng hình chữ nhật của Tử Cấm Thành cũng được đặt cạnh đặc điểm của một số hoàng thành trước đó tại Trung Quốc.
Các tài liệu lịch sử Trung Quốc như Hoàng Minh thông kỷ và Anh Tông chính thống thực lục cũng được dẫn là có ghi nhận vai trò của Nguyễn An trong quá trình xây dựng.
Hồ Nguyên Trừng và sự hình thành Thần cơ doanh
Hồ Nguyên Trừng, con trưởng của Hồ Quý Ly, lại được biết đến với tài năng chế tạo vũ khí, đặc biệt là súng và pháo.
Sau khi nhà Hồ thất bại trước quân Minh, Hồ Nguyên Trừng cùng cha và nhiều quan lại bị đưa sang Trung Quốc. Nhận thấy ông có kỹ thuật chế tạo súng thần cơ, nhà Minh đã sử dụng tài năng của ông.
Theo Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, sử liệu nhà Minh có ghi: “Trừng khéo chế súng, chế ra thần cơ cho triều đình, đến nay tế binh khí đều phải tế Trừng”.
Một tài liệu khác cũng được dẫn lại cho biết sau các cuộc nam chinh, quân Minh học được kỹ thuật chế tạo thần công và từ đó thành lập Thần cơ doanh, một lực lượng chuyên sử dụng hỏa khí.

GS Trần Quốc Vượng khi nghiên cứu lịch sử Trung Quốc cũng dẫn Minh sử với nội dung: “Đến đời vua Thành Tổ nhà Minh (1403-1424) đánh nước Giao chỉ học được phép đúc thần cơ sang pháo, lúc bấy giờ mới đặt ra đội súng thần cơ”.
Theo cách lý giải từ các tài liệu trên, Hồ Nguyên Trừng có vai trò quan trọng trong việc truyền bá kỹ thuật chế tạo hỏa khí cho quân đội nhà Minh và gắn với sự ra đời của Thần cơ doanh.
Khương Công Phụ, người Việt đỗ đầu khoa thi nhà Đường
Không chỉ nổi bật trong lĩnh vực quân sự hay kiến trúc, người Việt thời phong kiến còn được ghi nhận trong hệ thống khoa cử của Trung Quốc.
Một trường hợp đáng chú ý là Khương Công Phụ, quê ở Yên Định, Thanh Hóa. Vào năm 784, khi nước ta vẫn nằm dưới sự cai trị của nhà Đường, ông sang Trường An dự thi và được ghi nhận đỗ Trạng Nguyên.
Theo Chuyện thi cử và lập nghiệp của học trò xưa, Khương Công Phụ xuất thân trong một gia đình làm nghề bán thuốc bắc. Từ nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh và được gia đình cho theo học một Nho sĩ người Trung Quốc từng đỗ đạt nhưng rời bỏ quan trường sang Việt Nam sinh sống.
Nhờ quá trình học tập, Khương Công Phụ vượt qua các kỳ khảo hạch dành cho sĩ tử An Nam và tiếp tục dự kỳ thi tại Trường An. Sau khi đỗ đạt, ông bước vào con đường làm quan dưới triều Đường, từng giữ chức Gián nghị đại phu rồi được nhắc đến với chức Tể tướng.

Học giả Trung Quốc La Sĩ Bằng khi nhận xét về Khương Công Phụ từng viết: “Thời Đường lấy văn thơ kén quan chức. Người An Nam muốn ra làm quan ắt phải theo lối đó. Công Phụ qua khoa cử làm quan đến chức cao quý như Tể phụ thì thơ văn chắc phải uyên thâm lỗi lạc… Chỉ có trong Toàn Đường Văn, quyển 446 có chép 2 thiên: Bạch Vân chiếu xuân hải và Đối cực trực gián sách. Qua hai thiên văn chương ấy, chúng ta đại khái thấy được bút văn, kiến thức của bậc văn tài”.
Những câu chuyện về Lý Ông Trọng, Nguyễn An, Hồ Nguyên Trừng và Khương Công Phụ cho thấy trong các tư liệu lịch sử và truyền thuyết còn lưu lại, nhiều nhân vật có nguồn gốc từ vùng đất Việt từng được nhắc đến trong những giai đoạn quan trọng của lịch sử Trung Quốc.