Người Việt Nam đầu tiên nhiễm HIV: Nhiễm bệnh vì người chồng ngoại tình, cuộc sống hiện tại thế nào?
HIV/AIDS từng được xem là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất thế giới. Tại Việt Nam, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm 1990 là một phụ nữ sống tại TPHCM. Hơn 36 năm sau, người này vẫn duy trì sức khỏe ổn định nhờ điều trị đều đặn.
Kể từ khi được phát hiện, HIV/AIDS luôn là một trong những vấn đề sức khỏe được quan tâm trên toàn cầu. Sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, việc điều trị HIV đã có những bước tiến lớn, song các phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn vẫn rất hiếm.
HIV tấn công hệ miễn dịch của con người, đặc biệt là các tế bào lympho T CD4. Nếu không được điều trị, virus tiếp tục nhân lên, làm suy giảm số lượng tế bào miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và bệnh lý khác.
Về nguồn gốc, HIV được xác định có liên quan đến các virus gây suy giảm miễn dịch ở linh trưởng. Hai chủng chính là HIV-1 và HIV-2, được cho có nguồn gốc từ virus ở các loài linh trưởng tại châu Phi, sau đó lây truyền sang người.
Tại Việt Nam, mỗi năm vẫn ghi nhận thêm các trường hợp được phát hiện nhiễm HIV thông qua hoạt động xét nghiệm. Vậy người đầu tiên được phát hiện nhiễm HIV tại Việt Nam là ai và hiện nay cuộc sống của người này ra sao?
Theo thông tin từ bác sĩ Nguyễn Hữu Hải, Phó trưởng Phòng Điều trị HIV/AIDS, Cục Phòng, chống HIV/AIDS, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam là một phụ nữ sinh sống tại TPHCM.
Người phụ nữ này phát hiện mình nhiễm HIV vào năm 1990, khi 30 tuổi.
Theo thông tin được công bố, thời điểm đó, bà đang làm thủ tục xuất cảnh cùng người chồng sắp cưới là một nghệ sĩ múa hoạt động tại châu Âu thì phát hiện mình nhiễm HIV.
Người chồng sắp cưới của bà trước đó được cho là đã có quan hệ tình dục không an toàn với một bạn tình khác và sau đó lây nhiễm cho người phụ nữ.
Đến tháng 1/1997, người phụ nữ bắt đầu điều trị bằng thuốc kháng virus ARV.
Tính đến năm 2020, bà vẫn duy trì việc điều trị định kỳ và được theo dõi tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TPHCM. Nhờ quá trình điều trị liên tục, sức khỏe của người phụ nữ hiện ổn định và sinh hoạt bình thường.
Theo thông tin được cung cấp vào năm 2020, tải lượng virus của bệnh nhân đã được kiểm soát ở mức thấp, góp phần hạn chế nguy cơ lây truyền.