Ông là người đầu tiên và duy nhất thế giới đến thời điểm hiện tại từ chối nhận giải Nobel Hòa bình. Ông là người Việt Nam.
Người đầu tiên và duy nhất đến lúc này từ chối nhận giải Nobel Hòa bình là ai?
Lê Đức Thọ - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương là một trong những cán bộ lãnh đạo có nhiều năm hoạt động trên các chiến trường từ kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, từng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng trong Đảng.
Ông có tên khai sinh là Phan Đình Khải, sinh ngày 10/10/1911 tại xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, nay thuộc phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình.
Người chiến sĩ cộng sản kiên cường, mẫu mực
Lê Đức Thọ là một trong những nhà lãnh đạo có nhiều năm hoạt động cách mạng trên nhiều chiến trường, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp cho đến chống Mỹ cứu nước.
Từ năm 1926, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, tham gia phong trào bãi khóa và lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh. Đến năm 1928, ông hoạt động trong Học sinh Hội dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Định.
Tháng 10/1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, giữ vai trò Bí thư chi bộ học sinh, phụ trách công tác thanh niên học sinh. Tháng 11/1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù khổ sai và bị đày ra Côn Đảo. Tại đây, ông được cấp ủy chi bộ nhà tù cử làm Bí thư chi bộ và tham gia Thường vụ chi ủy nhà tù.
Giai đoạn 1936-1939, sau khi ra tù, ông được giao phụ trách công tác báo chí công khai của Đảng bộ, đồng thời xây dựng cơ sở bí mật của Đảng tại Nam Định. Từ năm 1939 đến 1944, ông tiếp tục bị địch bắt và kết án 5 năm tù, bị giam giữ tại các nhà tù Hà Nội, Sơn La và Hòa Bình.
Tháng 9/1944, sau khi được trả tự do, ông được Trung ương Đảng giao phụ trách khu an toàn của Trung ương, công tác tổ chức và huấn luyện cán bộ. Tháng 10/1944, ông được chỉ định là Ủy viên Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng thời tham dự hội nghị mở rộng Ban Thường vụ Trung ương Đảng đêm 9/3/1945 - nơi đề ra chủ trương phát động cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa.
Tháng 8/1945, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, ông được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông phụ trách công tác tổ chức của Đảng. Tháng 12/1946, ông tham dự Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.
Năm 1948, ông thay mặt Trung ương Đảng tham gia đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ vào miền Nam công tác. Năm 1949, ông giữ chức Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Đến năm 1951, tại Đại hội lần thứ II của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Trong giai đoạn 1949-1954, ông đồng thời là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.
Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Thống nhất Trung ương. Cuối năm 1955, ông được bổ sung vào Bộ Chính trị, phụ trách công tác sửa sai trong cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức.
Cuối năm 1956, ông giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương; từ tháng 11/1956 đến năm 1961 kiêm Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, giữ cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương.
Năm 1966, ông kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; năm 1967 được cử tham gia Quân ủy Trung ương.
Dấu ấn đặc biệt trên bàn đàm phán Hiệp định Paris
Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, ông được Bộ Chính trị cử vào miền Nam giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đến tháng 5/1968, ông được điều ra miền Bắc, giao nhiệm vụ phụ trách công tác đấu tranh ngoại giao, giữ vai trò Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán riêng với đại diện Chính phủ Mỹ.
Quá trình đàm phán Hiệp định Paris kéo dài hơn 4 năm với sự tham gia của 4 bên: phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Xuân Thủy làm trưởng đoàn, ông Lê Đức Thọ là cố vấn; phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Nguyễn Thị Bình đảm nhiệm; cùng phái đoàn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Đây được xem là một trong những cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử, diễn ra song song với những diễn biến phức tạp trên chiến trường. Các cuộc thương lượng được ví như một mặt trận đặc biệt, nơi diễn ra những cuộc đấu trí căng thẳng giữa các bên.
Theo thống kê, từ năm 1968 đến 1972 đã diễn ra 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 24 cuộc họp bí mật, khoảng 500 cuộc họp báo và hơn 1.000 cuộc phỏng vấn.
Đáng chú ý, các cuộc gặp riêng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger được xem là những cuộc đối thoại mang tính bước ngoặt trong tiến trình đàm phán.
Theo ghi chép từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ông Lê Đức Thọ được lựa chọn tham gia đàm phán tại Paris nhờ kinh nghiệm thực tiễn phong phú, phù hợp với chiến lược vừa đấu tranh quân sự vừa đàm phán ngoại giao.
Trong suốt quá trình này, ông kiên định nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, với lập trường yêu cầu Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, đồng thời bảo đảm lực lượng cách mạng tiếp tục hoạt động cho đến khi đất nước thống nhất.
Tháng 12/1972, Mỹ tiến hành chiến dịch không kích bằng máy bay B52 xuống Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm. Tuy nhiên, chiến dịch này không đạt được mục tiêu đề ra. Quân và dân Việt Nam giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, tạo bước ngoặt quan trọng trên bàn đàm phán.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài trên nhiều mặt trận, trong đó có đóng góp của các lực lượng chính trị, quân sự và ngoại giao. Trên mặt trận ngoại giao, vai trò của cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và bà Nguyễn Thị Bình được ghi nhận trong tiến trình đàm phán kéo dài này.
Thẳng thắn từ chối giải thưởng danh giá bậc nhất hành tinh
Tháng 10/1973, sau khi ký kết thành công Hiệp định Paris, Lê Đức Thọ trở thành người châu Á đầu tiên được trao Giải Nobel Hòa bình cùng với Henry Kissinger. Tuy nhiên, ông đã từ chối nhận giải. Điều này khiến ông trở thành người đầu tiên và duy nhất cho tới nay từ chối Giải Nobel Hòa bình.
Quyết định này lập tức gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế. The New York Times từng đăng bài viết với tiêu đề: “Tho Rejects Nobel Prize, Citing Vietnam Situation” (Lê Đức Thọ từ chối Giải Nobel Hòa bình vì tình hình Việt Nam).
Theo nội dung bài báo, ông Lê Đức Thọ từ chối giải thưởng vì cho rằng hòa bình thực sự vẫn chưa được thiết lập tại Việt Nam. Ông khẳng định: “Hòa bình thực sự vẫn chưa được lập lại và tôi hành động vì dân tộc mình”.
Nhà ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh, việc xem xét nhận giải chỉ có thể diễn ra khi Hiệp định Paris được tôn trọng, chiến tranh chấm dứt hoàn toàn và hòa bình thực sự được xác lập tại miền Nam Việt Nam.
Sau đó, ông đã gửi thư tới bà Aase Lionæs để giải thích rõ quyết định của mình. Trong bức thư này, ông không đề cập tới người đồng nhận giải là Henry Kissinger.
Hành động từ chối giải thưởng của ông Lê Đức Thọ thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về bản chất của Hiệp định Paris. Theo đó, đây không phải là sự thỏa hiệp giữa các bên, mà là kết quả của quá trình đấu tranh nhằm chấm dứt sự can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam.
Trong một bức thư trả lời phỏng vấn nữ phóng viên hãng thông tấn UPI Sylvana Foa ngày 15/3/1985, được thư ký Lưu Văn Lợi ghi chép lại, ông Lê Đức Thọ nói: “Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn và có ý nghĩa quan trọng trên thế giới. Nhưng vấn đề là ai là người thực sự mang lại hòa bình”.
Ông cho rằng trong suốt nhiều năm chiến tranh, phía Mỹ tiến hành các hoạt động quân sự tại Việt Nam, còn nhân dân Việt Nam là lực lượng đấu tranh để giành độc lập và lập lại hòa bình. Theo ông, chính Việt Nam mới là bên tạo ra hòa bình chứ không phải phía Mỹ.
Ông cũng cho biết, trong thư gửi Ủy ban Nobel, ông đã phân tích chi tiết về bản chất của cuộc chiến tranh. Theo quan điểm của ông, việc đặt ngang hàng giữa bên tiến hành chiến tranh và bên đấu tranh giành hòa bình là điều không phù hợp và đó là lý do ông không thể chấp nhận giải thưởng.
Nhiều năm sau, khi trả lời báo chí, con trai của ông Lê Đức Thọ cho biết cha mình chưa bao giờ xem đây là phần thưởng dành cho cá nhân. Theo quan điểm của ông, nếu Giải Nobel Hòa bình được trao thì nên dành cho toàn thể nhân dân Việt Nam - những người trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập và kiến tạo hòa bình.
Giải Nobel Hòa bình năm 1973 cho đến nay vẫn được xem là một trong những giải thưởng gây nhiều tranh cãi nhất lịch sử. Truyền thông quốc tế thời điểm đó đã có nhiều phản ứng trái chiều, thậm chí The New York Times từng gọi đây là “Nobel Chiến tranh”.
Một số nguồn tin cho biết, sau khi được trao giải vắng mặt, Henry Kissinger từng tìm cách trả lại giải thưởng, tuy nhiên đề nghị này không được Ủy ban Nobel chấp thuận.