Ba lần đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư, ông được ghi nhận là nhà lãnh đạo tài năng, người cộng sản mẫu mực, trọn đời cống hiến cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Ba lần giữ cương vị Tổng Bí thư, ông là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc và cuộc sống ấm no của nhân dân.
Theo báo Quân đội Nhân dân, đồng chí Trường Chinh là người duy nhất trong lịch sử giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng ba lần ở những thời điểm đặc biệt của cách mạng.
Lần thứ nhất, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương (từ ngày 6 đến 9/11/1940 tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh), ông được phân công làm Quyền Tổng Bí thư thay cho Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ khi người này bị địch bắt. Đến Hội nghị Trung ương 8 (tháng 3/1941), ông chính thức được bầu giữ cương vị Tổng Bí thư.
Lần thứ hai, sau Cách mạng Tháng Tám, dù Đảng chuyển sang hoạt động bí mật, vai trò lãnh đạo cách mạng vẫn được duy trì. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951), Đảng xác định đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và ông Trường Chinh giữ chức Tổng Bí thư của Đảng Lao động Việt Nam.
Lần thứ ba, vào đầu thập niên 1980, trước bối cảnh kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, ông là một trong những người khởi xướng tư duy đổi mới. Sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời (ngày 10/7/1986), tại phiên họp đặc biệt ngày 14/7/1986, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu ông Trường Chinh giữ cương vị Tổng Bí thư.
Theo báo Quân đội Nhân dân, đồng chí Trường Chinh (1907–1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, quê tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (cũ).
Theo báo Công an Nhân dân, trong thời gian làm chủ bút báo Giải phóng, ông sử dụng nhiều bút danh khác nhau. Với bút danh Thiết Tâm, ông viết các bài đấu tranh chống lực lượng phản quốc, tay sai xâm lược như “Gỡ mặt nạ bọn Đại Việt Quốc xã” (Giải phóng, số 3, ngày 23/8/1941), đồng thời thể hiện quan điểm về xây dựng Đảng qua bài “Củng cố Đảng, vấn đề cán bộ” (năm 1941).
Cùng thời gian này, ông còn ký bút danh S.T trong bài “Gỡ mặt nạ lũ Việt gian, chó săn, chim mồi của Nhật”. Đây cũng là giai đoạn ông bắt đầu sử dụng bút danh Trường Chinh cho các tác phẩm của mình – cái tên sau này trở nên quen thuộc với đông đảo đồng bào, chiến sĩ cả nước.
Bút danh Trường Chinh xuất hiện trong nhiều bài viết đăng trên báo Cờ Giải phóng, như “Chung quanh chính sách liên minh với Pháp Đờ-gôn…” (số 7, ngày 28/9/1944). Ngoài ra, bút danh T.C cũng được sử dụng trong một số bài báo, tiêu biểu là “Nội các Đông Dương sụp đổ” đăng ngày 28/7/1944.
Theo báo Quân đội Nhân dân, với bút danh Sóng Hồng, ông đã sáng tác và đăng tải hơn 200 bài thơ trên nhiều tờ báo, cả bí mật và công khai, từ những năm 1920–1930. Các tác phẩm này sau đó được tập hợp thành các tuyển tập như “Thơ” (tập 1 năm 1966, tập 2 năm 1974) và “Thơ Sóng Hồng” (NXB Văn học, năm 1983).
Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Trường Chinh không chỉ gắn liền với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam mà còn thể hiện rõ phẩm chất của một nhà lãnh đạo kiên định, sáng tạo và hết lòng vì đất nước, nhân dân.