Gia đình duy nhất ở Việt Nam có 3 người được đặt tên đường, con cháu toàn thiếu tướng, giáo sư nổi tiếng
Ở Việt Nam, có một gia đình đặc biệt khi có đến 3 thành viên trong nhà được chọn đặt tên đường. Các thế hệ của gia đình này đều để lại dấu ấn sâu đậm với lịch sử văn hóa, giáo dục, khoa học và bảo tồn di sản của nước ta.
Gia đình duy nhất ở Việt Nam có 3 người được đặt tên đường
Hoàng Đạo Thành (1835–1908) là một nhà Nho, học giả và sử gia tiêu biểu vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, đồng thời cũng là một chí sĩ tham gia phong trào Duy Tân. Ông sinh năm Ất Mùi (1835) tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông xưa, nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội. Tên khai sinh của ông là Cung Đạo Thành, hiệu Cúc Lữ. Trước kỳ thi Hương, ông đổi sang họ Hoàng và từ đó lấy tên Hoàng Đạo Thành.
Khoa thi năm Giáp Thân (1884), ông đỗ Cử nhân tại trường thi Thanh Hóa, cùng khoa với Đào Nguyên Phổ. Sau khi thành đạt, ông ra làm quan, từng đảm nhiệm chức giáo thụ ở các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Từ Sơn; sau đó giữ chức tri huyện Quế Dương, rồi đồng tri phủ phân phủ Thuận Thành (Bắc Ninh). Trong suốt thời gian làm quan, Hoàng Đạo Thành được đánh giá là người thanh bạch, uyên thâm Nho học và có kiến thức sâu rộng về sử học.
Năm 1902, ông xin cáo quan về quê. Kể từ đó, Hoàng Đạo Thành dành toàn bộ thời gian cho những công trình nghiên cứu đã ấp ủ từ trước. Hai tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là “Việt sử tân ước toàn biên” và “Đại Nam hành nghĩa liệt nữ truyện”. Cùng với nhiều sĩ phu đương thời, ông tham gia phong trào Duy Tân thông qua con đường văn hóa – học thuật, dùng thơ văn và sách vở để cổ vũ tinh thần yêu nước, khuyến khích canh tân xã hội.
Không chỉ là học giả, Hoàng Đạo Thành còn được dân làng kính trọng vì những việc làm thiết thực cho cộng đồng. Khi ấy, tại làng Kim Lũ có một cây đa lớn ven sông. Người dân muốn sang bờ bên kia đi chợ thường phải bám vào rễ hoặc thân cây để vượt sông. Mỗi mùa lũ về, nhiều người trượt tay rơi xuống nước, gây ra không ít cái chết thương tâm.
Trước tình cảnh đó, Hoàng Đạo Thành đã đứng ra kêu gọi các gia đình khá giả trong làng đóng góp tiền bạc, còn dân chúng góp công sức để xây dựng một cây cầu chắc chắn. Nhờ sự đồng lòng, cây cầu được hoàn thành, chấm dứt cảnh nguy hiểm kéo dài bấy lâu. Ban đầu, khi đặt tên đường, người ta dùng tên cây cầu, nhưng thấy không phù hợp. Sau khi biết cây cầu gắn liền với công lao của Hoàng Đạo Thành, chính quyền đã quyết định lấy tên ông đặt cho con đường, vừa để tưởng nhớ việc xây cầu, vừa ghi nhận những đóng góp của ông đối với quê hương.
Tư liệu cũ kể rằng, ở làng Lủ khi ấy có cây đa lớn sát bờ sông, người dân mỗi lần qua chợ đều phải túm vào cây đa để sang sông. Vào mùa nước lớn, tai nạn xảy ra thường xuyên. Chính Hoàng Đạo Thành đã vận động hào lý, chức sắc và những người có điều kiện trong làng góp tiền, còn người dân thì góp sức, để dựng nên cây cầu. Nhờ vậy, việc qua sông trở nên an toàn. Khi đặt tên đường, lúc đầu lấy tên cầu, nhưng về sau đổi sang tên người đã có công xây dựng, nhằm lưu lại công đức của ông.
Năm 1908, Hoàng Đạo Thành qua đời, để lại niềm tiếc thương cho nhiều thế hệ. Hiện nay, tên ông được dùng đặt cho phố Hoàng Đạo Thành thuộc phường Kim Giang, Hà Nội.
Gia đình danh giá bậc nhất, con cháu đều thành đạt
Hoàng Đạo Thành có hai đời vợ. Người vợ đầu là con gái của cụ Phạm Hội – một nhà giáo nổi tiếng liêm chính, con của cụ Phạm Quỳnh. Sau khi vợ cả mất, ông ở vậy nuôi con trong nhiều năm. Đến năm 62 tuổi, được các hào lý trong làng khuyên nhủ, ông mới tái hôn. Người vợ thứ hai sinh cho ông hai người con là Hoàng Đạo Thúy và một người con gái tên Hoàng Thị Tĩnh.
Tính chung cả con của hai bà, Hoàng Đạo Thành có 6 người con. Con trai trưởng là Cử nhân Hoàng Đạo Phương, một thương gia giàu có và có uy tín ở Hà Nội xưa. Con gái Hoàng Thị Uyển, thường gọi là bà Cả Mọc, là một nữ sĩ và nhà từ thiện nổi tiếng, từng giữ chức Hội trưởng Hội Tế sinh Bắc Việt và là người sáng lập cơ sở nuôi dưỡng trẻ miễn phí đầu tiên tại Hà Nội trước năm 1945.
Người con thứ sáu là Hoàng Đạo Thúy (1900–1994), một nhân vật đặc biệt trong lịch sử văn hóa và quân sự Việt Nam. Ông gia nhập quân đội khi đã 45 tuổi, từng giữ nhiều cương vị quan trọng như Giám đốc Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, Cục trưởng Cục Công binh, Cục trưởng Cục Quân huấn và Tổng Thư ký Ban Thi đua Trung ương. Xuất thân từ gia đình Nho học, từ trẻ ông đã được xem là nhà sư phạm xuất sắc, học vấn uyên bác.
Hoàng Đạo Thúy còn được coi là người anh cả của phong trào Hướng đạo sinh Việt Nam. Từ một phong trào thiên về rèn luyện thể chất, dưới sự dẫn dắt của ông, Hướng đạo sinh dần trở thành môi trường giáo dục lý tưởng sống, tinh thần yêu nước và ý thức công dân cho thanh niên. Tác phẩm “Trai nước Nam làm gì?” của ông từng là sách gối đầu giường của nhiều thế hệ hướng đạo sinh, trong đó có không ít người sau này trở thành trí thức lớn.
Ông cũng là người đặt nền móng cho ngành thông tin liên lạc quân đội, được gọi là “anh cả của Bộ đội Thông tin”. Bên cạnh đó, Hoàng Đạo Thúy còn là học giả có nhiều nghiên cứu sâu sắc về lịch sử – văn hóa Hà Nội, được giới nghiên cứu xem là một “nhà Hà Nội học” tiêu biểu. Ông là người sáng lập phong trào Hướng đạo Việt Nam năm 1929, góp phần đào tạo nhiều trí thức trẻ, trong đó có Giáo sư Tạ Quang Bửu.
Khi Hoàng Đạo Thúy qua đời, ông được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch. Trên bia mộ chỉ khắc vỏn vẹn dòng chữ: “Cụ Hoàng Đạo Thúy 1900–1994”, không ghi chức danh hay huân chương, dù ông có nhiều cống hiến. Sinh thời, ông từng nói: “Chết mà lên sân khấu làm gì?”.
Cháu nội của Hoàng Đạo Thành, con trai của Hoàng Đạo Thúy, là GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính – một trong những chuyên gia hàng đầu về bảo tồn và trùng tu di sản kiến trúc Việt Nam. Từ năm 13 tuổi, ông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn vào nhóm 100 “hạt giống đỏ của cách mạng” để đào tạo tại Liên Xô. Sau nhiều năm học tập và nghiên cứu ở nước ngoài, ông trở thành giáo sư đầu ngành về bảo tồn di sản, dành cả đời cho công tác trùng tu các công trình lớn như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Nhà hát Lớn Hà Nội, Kinh thành Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn. Ông được giới chuyên môn gọi là “hiệp sĩ bảo tồn di tích”.
Con trai của Hoàng Đạo Kính là Tiến sĩ, kiến trúc sư Hoàng Đạo Cương – người tiếp nối sự nghiệp gia đình trong lĩnh vực bảo tồn di sản. Trước khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông từng là Viện trưởng Viện Bảo tồn Di tích. Công trình “Bảo tồn, tu bổ di tích kiến trúc gỗ” của ông được đánh giá cao về giá trị học thuật và thực tiễn.
Gia đình Hoàng Đạo Thúy còn có mối liên hệ đặc biệt với một trí thức lớn khác của Việt Nam là Giáo sư Tạ Quang Bửu, người kết hôn với con gái ông là bà Hoàng Thị Kim Oanh.
Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 – 21/8/1986) sinh trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Thiên Nhẫn, Nghệ An. Ông từng giữ chức Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội (1956–1961), Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1965–1976), là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI. Ông là nhà khoa học xuất sắc, từng học tập tại các đại học Sorbonne, Bordeaux và Oxford.
Con trai của Giáo sư Tạ Quang Bửu là Thiếu tướng Tạ Quang Chính, nguyên Cục trưởng Cục Chính trị, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Tại Hà Nội ngày nay, có ba con đường mang tên ba thành viên trong dòng họ danh giá gắn với Hoàng Đạo Thành: Hoàng Đạo Thành, Hoàng Đạo Thúy và Tạ Quang Bửu.