Đời sống

Người phụ nữ duy nhất của Việt Nam được UNESCO vinh danh, thân thế đến nay vẫn còn là bí ẩn

Trong 7 người Việt Nam được UNESCO ghi danh là danh nhân văn hóa thế giới, chỉ có một người là phụ nữ.

Đó chính là nhà thơ Hồ Xuân Hương – nữ danh nhân duy nhất được UNESCO vinh danh, cùng với các nhân vật lịch sử, văn hóa nổi tiếng khác gồm: Nguyễn Trãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Nguyễn Đình Chiểu và Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Từ nhỏ, Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng thông minh, sắc sảo, nhanh trí và có năng khiếu văn chương đặc biệt. 

Quê quán và dòng dõi của nữ sĩ đã được xác lập thông qua Hồ Tông thế phả; Gia phả tộc Hồ – hậu duệ của Hồ Thơm (vua Quang Trung), căn cứ trên cây gia phả Trung chi 2 cùng ý kiến xác nhận của các hậu duệ họ Hồ tại quê nhà Quỳnh Đôi. Những tư liệu này cho thấy, cụ Hồ Phi Diễn mới chính là thân sinh của Hồ Xuân Hương.

Sau khi người vợ cả qua đời (không có con), cụ Hồ Phi Diễn – thuộc Trung chi 2 – rời làng ra kinh thành Thăng Long, mở lớp dạy học tại làng Nghi Tàm. Sau đó, cụ kết hôn với một người phụ nữ họ Hà và sinh ra Hồ Phi Mai (tức Hồ Xuân Hương) tại phường Khán Xuân.

Trong khi đó, cụ Hồ Sĩ Danh có năm người con trai gồm: Hồ Sĩ Dược – con trưởng, đỗ Tứ trường thi Hương; Hồ Sĩ Đống – đỗ Hội nguyên, Hoàng Giáp, từng làm Tể tướng; Hồ Sĩ Thích – đỗ Tam trường; Hồ Sĩ Trù – đỗ sinh đồ; Hồ Sĩ Hữu – đỗ khoa Liệu sử khả, đến đời vua Gia Long được bổ nhiệm làm tri huyện. Tư liệu gia phả cho thấy cụ Hồ Sĩ Danh chỉ sinh sống trong làng, không ra ngoài, không có vợ lẽ.

Đối chiếu với Hồ Tông thế phả, Hồ Xuân Hương thuộc hậu duệ đời thứ 12 của Trung chi 2, đồng thời là chị họ với Quận công Hồ Sĩ Đống – hậu duệ đời thứ 12 của Trung chi 3 họ Hồ ở Quỳnh Đôi.

Việc làm sáng tỏ thân phụ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là cụ đồ Hồ Phi Diễn được xem là đóng góp quan trọng của tác giả Nghiêm Thị Hằng, qua đó chấm dứt giả thuyết cho rằng cụ Hồ Sĩ Danh là cha của nữ sĩ.

Không chỉ giải đáp hai bí ẩn lớn về thân thế Hồ Xuân Hương – rằng bà là nhân vật lịch sử có thật và cha ruột là cụ Hồ Phi Diễn – tác giả còn xác định được vị trí phần mộ cha mẹ nữ sĩ tại nghĩa địa Đồng Táo, làng Nghi Tàm. Hiện nay, nghĩa địa cổ này đã bị nhấn chìm dưới lòng Hồ Tây.

 

Nhà thơ, nhà báo Nghiêm Thị Hằng từng chia sẻ: “Tôi tìm ra phần mộ cha mẹ nữ sĩ nhờ những gợi mở trong bài thơ ‘Vịnh Thanh minh’ mà Hồ Xuân Hương sáng tác năm 1815, khi bà cùng vợ và em gái Tử Minh đi viếng nghĩa địa Đồng Táo. Hai câu thơ ‘Dầu dầu hai nấm lẫn vàng xanh / Kìa nấm thâm ân, nọ nấm tình’ cho thấy: cụ đồ Hồ Phi Diễn dạy học ở làng Nghi Tàm, mất năm 1786 và được an táng tại nghĩa địa Đồng Táo. Đến cuối năm 1814, khi Hồ Xuân Hương đang dạy học tại đây, mẹ bà là bà Hà Thị qua đời và được chôn cất cạnh mộ chồng. Ngôi mộ còn vàng do cỏ chưa kịp xanh là mộ bà Hà Thị mới mất, còn ngôi mộ phủ cỏ xanh là mộ cụ Hồ Phi Diễn đã qua đời 29 năm. Hai nấm mộ ấy chính là ‘nấm thâm ân’ và ‘nấm tình’, tức mộ phần của cha và mẹ nữ sĩ”.

ta-tam-7564

Ngày 23/11/2021, tại thủ đô Paris (Pháp), Đại hội đồng UNESCO khóa 41 đã thông qua danh sách “Danh nhân văn hóa và các sự kiện lịch sử niên khóa 2022-2023” nhằm tôn vinh và kỷ niệm năm sinh, năm mất của những nhân vật tiêu biểu.

Trong dịp này, hồ sơ kỷ niệm 250 năm ngày sinh và 200 năm ngày mất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã được thông qua.

Nghị quyết 41C/15 của UNESCO nêu rõ 7 giá trị cốt lõi về Hồ Xuân Hương, trong đó khẳng định bà có tư tưởng nhân văn sâu sắc, mang tầm nhân loại, lấy việc đấu tranh cho quyền sống của con người làm trung tâm; coi con người là những thực thể hiện hữu với đầy đủ nhu cầu và khát vọng trần thế; đồng thời là một hiện tượng văn hóa – thẩm mỹ đặc biệt với hệ thống quan niệm nghệ thuật độc đáo thể hiện qua thơ ca.

Bên cạnh đó, Hồ Xuân Hương có đóng góp quan trọng cho tư tưởng nữ quyền và bình đẳng giới; di sản của bà không chỉ nằm ở thơ ca mà còn ở hệ giá trị tinh thần, cách ứng xử và ý thức hướng đến tiến bộ xã hội; bà vừa đấu tranh bảo vệ con người, vừa phê phán, cảnh báo và phủ định những lực cản đối với sự phát triển.

UNESCO cũng đánh giá cao sức sống bền bỉ, khả năng lan tỏa và truyền cảm hứng của di sản Hồ Xuân Hương trên phạm vi quốc tế; nhiều tác phẩm của bà đã được giới nghiên cứu nước ngoài thừa nhận và dịch sang nhiều ngôn ngữ.

MurK5d6O8r0qxA5NCCQwiQ-153535183

Hồ Xuân Hương được hậu thế tôn xưng là “Bà chúa thơ Nôm”. Đến nay, còn lưu truyền nhiều bài thơ Nôm nổi tiếng của bà như Bánh trôi nước, Vịnh cái quạt, Lời mời trầu… với nghệ thuật ngôn từ tinh tế, giàu ẩn ý. Cuộc đời nữ sĩ nhiều truân chuyên khi hai lần lỡ duyên, và những tâm sự ấy phần lớn đều gửi gắm trong thơ.

Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét: “Thơ Hồ Xuân Hương là đời của Xuân Hương, là con người của Xuân Hương. Thơ ấy là hồn, là xác, là ánh mắt, bàn tay, bước chân, là nụ cười và nước mắt, là cá tính và số phận của Xuân Hương”.

Xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (trước đây), tỉnh Nghệ An từ lâu nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng và khoa bảng. Quỳnh Đôi vừa là tên xã, vừa là tên làng.

Theo thống kê, trong giai đoạn 1378–1918, địa phương này có 734 người đỗ tú tài, cử nhân; 4 phó bảng, 7 tiến sĩ, 2 hoàng giáp và 1 thám hoa. Từ sau năm 1945 đến nay, Quỳnh Đôi có thêm 55 tiến sĩ và 16 phó giáo sư. Ngoài truyền thống hiếu học, nơi đây còn được biết đến là quê hương của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.