Đời sống

Bí mật phía sau những cái tên lịch sử Bác Hồ đặt cho 2 vị tướng lừng danh

Việc cải tên đổi họ cho các học trò cận bối của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhằm mục đích giữ bí mật hành tung. Đằng sau những danh xưng huyền thoại được Người lựa chọn là cả một sự kỳ vọng lớn lao, gắn liền với vận mệnh quốc gia.

Ý nghĩa đằng sau những danh xưng bảo mật

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên cải tên cho những học trò, lực lượng cận vệ cùng các cán bộ cốt cán nhằm gửi gắm lý tưởng và thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối. Phương pháp này đồng thời giúp bảo mật thông tin, bảo đảm an toàn cho các cá nhân trong suốt quá trình hoạt động cách mạng.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa là hai trong số rất nhiều bậc kỳ tài được Người đặt tên. Dù sở hữu những cơ duyên hội ngộ riêng biệt với vị lãnh tụ, cả hai đều trải qua cuộc đời rực rỡ và hoàn thành trọn vẹn kỳ vọng từ tên gọi mới.

Nguyễn Chí Thanh: Bản lĩnh kiên cường qua thử thách

Báo điện tử Dân trí dẫn thông tin từ lãnh đạo Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tại số 81 Tân Nhuệ, Đông Ngạc, Hà Nội) cho biết, Đại tướng tên thật là Nguyễn Vịnh. Ông sinh năm 1914, quê gốc ở huyện Quảng Điền cũ, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Kể từ lần đầu tiên hội ngộ Bác Hồ vào năm 1945 cho đến khi qua đời vào năm 1967, Nguyễn Vịnh đã có 22 năm làm việc cận kề. Ông liên tục tháp tùng vị lãnh tụ trong hàng loạt sự kiện chính trị tối quan trọng cả trong và ngoài nước.

dai-tuong-nguyen-chi-thanh-1
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III).

Giác ngộ lý tưởng cách mạng từ sớm, chàng thanh niên Nguyễn Vịnh bộc lộ tính cách cương trực và gan góc. Ở tuổi 24, ông đảm nhận vị trí Bí thư đầu tiên của Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhanh chóng trở thành trụ cột của phong trào cách mạng miền Trung.

Cuối tháng 7/1945, Nguyễn Vịnh di chuyển từ miền Trung ra Bắc để tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào. Trước thời điểm diễn ra hội nghị, ông được hai đồng chí Hoàng Quốc Việt và Trường Chinh dẫn đến bái kiến lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Dù đã nghe danh vị lãnh tụ từ lâu, cuộc gặp gỡ trực tiếp đầu tiên vẫn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Nguyễn Vịnh. Chàng thanh niên cảm nhận rõ rệt tầm vóc trí tuệ, tư duy cùng phong thái ứng xử vô cùng dung dị của Người.

dai-tuong-nguyen-chi-thanh-2
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trong chuyến thăm Tiệp Khắc (Ảnh: Gia đình cung cấp).

Sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đặt cho Nguyễn Vịnh tên mới là Nguyễn Chí Thành. Quá trình đổi danh xưng này ẩn chứa nhiều chi tiết đặc biệt cùng ý nghĩa sâu xa.

Thời điểm bàn thảo về nhân sự Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, Bác chưa muốn công khai danh tính các đồng chí chủ chốt. Người lo ngại kịch bản bất lợi khi chuyển trạng thái chiến đấu: “Tiến không sao nhưng thoái thì thế nào”.

Do đó, Người giao nhiệm vụ cho đồng chí Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt chọn tên mới cho Nguyễn Vịnh. Tuy nhiên, chính Bác lại chủ động quyết định lấy tên Nguyễn Chí Thành với ý nghĩa có ý chí ắt sẽ thành công để công bố.

chu-tich-ho-chi-minh-va-dai-tuong-nguyen-chi-thanh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh dự Hội nghị Quân chính Toàn quân lần thứ nhất, Hà Nội năm 1960 (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

Một tư liệu lịch sử ghi lại lời chia sẻ của đồng chí Hoàng Quốc Việt: “Phần vì giữ bí mật, phần do tình hình khẩn trương nên Thường vụ quyết định ngay theo ý kiến chỉ đạo của Bác, bản thân Nguyễn Vịnh cũng không biết việc này”.

Lúc Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam ra mắt, Nguyễn Vịnh nghe thấy tên Nguyễn Chí Thành trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương. Ông liền quay sang hỏi đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi cạnh: “Nguyễn Chí Thành là ai đấy anh?”.

Đồng chí Phạm Văn Đồng mỉm cười giải thích: “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh cái tên mới để giữ bí mật và cũng có nhiều ý nghĩa”. Lời giải đáp khiến Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng vừa hạnh phúc.

Tuy nhiên, không lâu sau, ông đã chủ động báo cáo xin phép Bác Hồ cho lược bỏ dấu huyền trong tên mới. Lý do bởi trong dòng họ của ông có người tên Thành, theo tục lệ Huế phải kiêng đặt trùng tên bề trên.

Mặt khác, tên gọi này cũng trùng với đồng chí Nguyễn Kim Thành (nhà thơ Tố Hữu), người đang làm Chủ tịch chính quyền nhân dân ở Huế. Kể từ thời điểm đó, cái tên Nguyễn Chí Thanh chính thức gắn liền với cuộc đời ông.

dai-tuong-nguyen-chi-thanh-3
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, tại căn cứ Sở chỉ huy ở miền Nam, tháng 3/1965 (Ảnh: Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

Suốt chặng đường hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được Bác Hồ tín nhiệm giao phó nhiều trọng trách ở các lĩnh vực then chốt. Những ngày đầu lập nước, ông phụ trách dải đất miền Trung, bám trụ cùng vùng Bình - Trị - Thiên khói lửa.

Đến năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định bổ nhiệm ông giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông đồng thời quản lý Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.

Trên cương vị này, ông trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang nhân dân, tập trung xây dựng sức mạnh chính trị. Những quyết sách này tạo bước phát triển mới về năng lực tác chiến, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Năm 1954, khi hòa bình lập lại, ông tiếp tục nhận nhiệm vụ xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn. Giữa năm 1964, trước bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông được Bộ Chính trị và Bác Hồ cử vào miền Nam.

Nhiệm vụ cốt lõi của ông trong chuyến đi này là nghiên cứu phương án đánh thắng quân đội Mỹ. Tìm ra cách đánh Mỹ là lời hứa của Đại tướng với Bác Hồ, đồng thời là ước mơ lớn nhất của bản thân ông.

Đại tướng từng bày tỏ khát vọng: “Tổng kết thắng Mỹ phải viết được như bản Đại cáo bình Ngô năm xưa, lấy tên là Bình Mỹ đại cáo”. Ước nguyện này thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của người chiến sĩ cách mạng.

chu-tich-ho-chi-minh-va-dai-tuong-nguyen-chi-thanh-2
Bức tượng đồng, minh họa hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh lúc sinh thời (Ảnh: Nguyễn Ngoan). (Ảnh: Nguyễn Ngoan).

Thời điểm tiễn đoàn cán bộ vào Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng Thiếu tướng Lê Trọng Tấn: “Đánh Pháp đã khó, đánh Mỹ càng khó hơn. Đảng và Chính phủ giao cho các chú vào trong đó cùng với đồng bào Miền Nam đánh Mỹ cho kỳ được thắng lợi. Gặp đồng bào thì nói: Bác Hồ luôn luôn nghĩ đến đồng bào Miền Nam”.

Tại chiến trường miền Nam, với cương vị lãnh đạo cao nhất, Đại tướng đã đi sâu nghiên cứu quy luật hoạt động của địch. Ông sớm phát hiện sự thay đổi trong chiến lược của Mỹ để kịp thời tham mưu cho Trung ương điều chỉnh.

Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng quân sự và chính trị, ông hạ quyết tâm đánh thắng Mỹ ngay tại chiến trường. Ông nhận định điểm yếu lớn của quân Mỹ xuất hiện khi ta áp dụng nghệ thuật tác chiến áp sát.

Lối đánh bám chặt này khiến các loại vũ khí và phương tiện hỏa lực hiện đại của đối phương bị vô hiệu hóa. Từ đó, Đại tướng đề xuất chiến thuật nổi tiếng đưa vào thực tế chiến đấu.

Chiến thuật “nắm thắt lưng địch mà đánh” yêu cầu bộ đội áp sát, tổ chức tiến công ở cự ly gần. Phương pháp này khiến quân địch không thể phát huy ưu thế từ lực lượng không quân và pháo binh hạng nặng.

Nhờ vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự này, quân và dân ta liên tiếp gặt hái nhiều chiến công vang dội. Những thắng lợi chiến thuật liên tiếp tạo tiền đề vững chắc hướng tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đưa ra lời nhận xét ngắn gọn nhưng đầy súc tích về người học trò của mình: "Chú Thanh là một người thật thà, gan góc và kiên quyết".

Đối với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, dù đã biết về Nguyễn Ái Quốc qua báo chí từ trước, ông vẫn bị cuốn hút mạnh mẽ. Ông trở thành người học trò xuất sắc, gắn liền với những mốc son chói lọi của dân tộc.

Trần Đại Nghĩa: Từ bỏ nhung lụa vì việc đại nghĩa

Trước thời điểm gặp Bác Hồ vào năm 1946, Phạm Quang Lễ đang là một trí thức có tiếng tại thủ đô Paris của Pháp. Ông sở hữu 4 bằng đại học, thông thạo 5 ngôn ngữ và nhận mức lương tương đương 22 lượng vàng mỗi tháng.

Sau cuộc gặp với Bác Hồ cùng lời ngỏ: “Bác sắp về nước, chú chuẩn bị để vài ngày nữa chúng ta lên đường. Chú đã sẵn sàng được chưa?", chàng Việt kiều Pháp lập tức nhận lời mà không cần suy tính.

gia-su-tran-dai-nghia
GS Trần Đại Nghĩa (hàng thứ nhất, vị trí thứ hai từ trái qua, đeo kính) cùng đoàn đại biểu quân đội chúc thọ tuổi 60 Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh: Chụp lại tư liệu).

Ông quyết định từ bỏ cuộc sống nhung lụa tại châu Âu để trở về nước tham gia cách mạng. Quyết định này mở ra một chương mới trong cuộc đời ông, đầy rẫy gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.

Trong cuốn hồi ký cá nhân, Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa cho biết tên thật Phạm Quang Lễ của ông được giữ cho đến trước 7h sáng ngày 5/12/1946. Danh xưng mới chỉ xuất hiện sau một cuộc gặp đặc biệt.

Tại Bắc Bộ phủ, Bác Hồ đã trực tiếp đặt cho ông cái tên Trần Đại Nghĩa. Tên gọi này gắn liền với sứ mệnh thiêng liêng là phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Trong cuộc gặp sáng ngày mùng 5/12/1946 đó, Bác Hồ quyết định giao cho Phạm Quang Lễ chức vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Nhiệm vụ trọng tâm của ông là phụ trách chế tạo vũ khí phục vụ bộ đội chiến đấu.

Bác giải thích đây là việc đại nghĩa nên đã chọn danh xưng Trần Đại Nghĩa cho ông. Tên gọi này cũng giúp bảo mật thông tin, giữ an toàn cho thân nhân của ông đang sinh sống ở miền Nam.

Không phụ sự kỳ vọng, Trần Đại Nghĩa sau này trở thành nhà khoa học lớn, danh xưng “ông vua vũ khí” gắn liền với tên tuổi ông. Ông có những đóng góp mang tính bước ngoặt cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

chu-tich-ho-chi-minh-va-giao-su-tran-dai-nghia
Theo GS Trần Đại Nghĩa, ông thường được Bác Hồ đóng góp cho nhiều ý kiến quý giá dù ở bất cứ cương vị nào (Ảnh: Tư liệu).

Con trai ông là Đại tá Trần Dũng Trí kể lại, sinh thời cha ông luôn coi Bác Hồ là người thầy vĩ đại nhất. Vị lãnh tụ tối cao đã có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ lý tưởng cống hiến của ông.

Năm 1935, ông sang Pháp với mục đích âm thầm là học cách chế tạo vũ khí để đánh đuổi thực dân. Tại Pháp lúc bấy giờ, khoa học quân sự là lĩnh vực cấm tuyệt đối đối với người dân thuộc địa.

Để tránh bị trục xuất, suốt 11 năm, Trần Đại Nghĩa phải bí mật tự học thông qua nhiều phương thức khác nhau. Ông chủ động làm quen với thủ thư, tự học tiếng Đức tốc hành và làm việc tại nhà máy máy bay.

Sự kiên trì giúp ông tích lũy được hơn 1 tấn tài liệu chuyên ngành quý giá phục vụ cho công việc sau này. Đến tháng 9/1946, ông nhận được tin mừng lớn khi Bác cho phép theo Người về nước.

Trong hành trình hơn một tháng di chuyển trên biển, chàng trí thức trẻ được tham gia lớp học chính trị do Bác trực tiếp đứng lớp. Những lời căn dặn của Người thấm sâu vào tâm trí ông suốt cuộc đời.

Hồi ký của ông có đoạn: “Ngay các câu hỏi thân mật của Bác đặt ra để xem chúng tôi thu nhận tới mức nào, để sửa chữa những lệch lạc cho chúng tôi càng lộ rõ lòng thương yêu đối với những cán bộ trẻ chưa có kinh nghiệm, làm cho chúng tôi vô cùng cảm động và nhớ mãi mãi”.

giao-su-tran-dai-nghia
Giáo sư Trần Đại Nghĩa. Ảnh Tư liệu.

Về phía Bác Hồ, Người dành nhiều lời khen ngợi cho những đóng góp của người kỹ sư trẻ trong việc xây dựng ngành quân giới. Bác đánh giá cao sự hòa đồng, tinh thần học hỏi từ công nhân của ông.

Trong một bài viết trên báo Nhân dân vào năm 1952, Bác khẳng định: “Là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng Lao động trí óc Trần Đại Nghĩa”.

Bác cũng nhắc lại lời dặn dò ngày mới về nước khi hoàn cảnh nước nhà còn thiếu thốn máy móc, nguyên liệu. Người yêu cầu ông vận dụng kiến thức phương Tây vào thực tế đất nước để phụng sự.

Người khen ngợi kỹ sư Nghĩa đã thực hiện đúng lời hứa, vượt qua mọi rào cản để đào tạo cán bộ. Ông là người giỏi về khoa học lý thuyết nhưng khi áp dụng vào thực tế lại không hề máy móc.

Trong các cuộc chiến tranh, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu, cải tiến thành công nhiều loại vũ khí hạng nặng. Những sản phẩm này trực tiếp làm thay đổi cục diện trên nhiều chiến trường trọng điểm.

Các loại vũ khí nổi tiếng bao gồm đạn bazooka, súng không giật SKZ có khả năng xuyên thủng bê tông dày 60cm. Ngoài ra, ông còn chế tạo thành công các loại bom bay sở hữu sức công phá cực lớn.

Đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, ông tiếp tục đóng góp trí tuệ trong việc tìm giải pháp ứng phó máy bay B52. Ông tham gia phá hệ thống thủy lôi và chế tạo thiết bị chuyên dụng cho lực lượng đặc công.

Sau này, khi lập gia đình, vợ chồng Giáo sư Trần Đại Nghĩa vẫn quyết định để các con mang họ Trần. Đây là họ do chính Bác Hồ lựa chọn và đặt riêng cho ông từ những ngày đầu về nước.

Đại tá Trần Dũng Trí chia sẻ lời tâm sự của mẹ ông về việc đặt tên cho các con: "Mẹ nghĩ Bác Hồ đã đặt tên cho ba các con là họ Trần thì các con cũng lấy họ Trần, các cháu cũng lấy họ Trần để nối tiếp sự nghiệp của cha".

con-trai-giao-su-tran-dai-nghia
Con trai GS Trần Đại Nghĩa cho hay, gia đình ông sau này vẫn lấy tên theo họ Trần Bác Hồ đã đặt cho cha ông (Ảnh: Nguyễn Hà Nam).

Theo đó, các con trai của ông lần lượt được đặt tên là Trần Dũng Triệu, Trần Dũng Trình và Trần Dũng Trọng. Thế hệ con cháu sau này của gia đình đều tiếp tục kế thừa dòng họ ý nghĩa này.

Hàng năm, vào dịp sinh nhật Bác hoặc ngày Quốc khánh, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đều có những bài viết tri ân đầy cảm xúc. Những dòng tâm sự thể hiện lòng kính yêu vô hạn đối với người thầy lớn.

Trong bài viết kỷ niệm 98 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông bày tỏ: “Tôi đời đời biết ơn Bác Hồ vĩ đại muôn vàn kính yêu đã cảm hóa và giáo dục tôi. Hình ảnh Bác Hồ hàng ngày và mãi mãi in sâu trong trái tim tôi”.

Xuyên suốt tiến trình cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo nên nhiều thế hệ chiến sĩ kiên trung. Những học trò xuất sắc của Người đã đi vào lịch sử dân tộc như những biểu tượng bất tử.

Dù đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau, cả Trần Đại Nghĩa và Nguyễn Chí Thanh đều thấm nhuần lời dạy của Người. Họ đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước.