Đời sống

Góp 1,7 tỷ từ 2010 để mua nhà cùng cháu ruột, người đàn ông bức xúc khi tài sản chỉ đứng tên 1 người

Do tin tưởng cháu ruột nên người đàn ông ở TP.HCM đã bỏ ra tổng số tiền khoảng 1,7 tỷ đồng để mua chung một căn nhà tại phường Thủ Đức.

Theo trình bày của ông T. (ngụ TPHCM), năm 2010 ông và cháu ruột là bà G. thỏa thuận cùng mua một căn nhà tại phường Thủ Đức, TPHCM. Hai bên thống nhất góp vốn nhưng chỉ nói miệng, không lập giấy tờ ràng buộc.

Gop-1-7-ty-tu-2010-de-mua-nha-cung-chau-ruot-nguoi-dan-ong-buc-xuc-khi-tai-san-chi-dung-ten-1-nguoi
Ảnh minh họa.

Để thực hiện việc mua bán, ông T. góp tiền mặt, còn bà G. góp bằng cách dùng một căn nhà khác để hoán đổi với bên bán. Trong giai đoạn 2010-2011, ông T. cho biết mình nhiều lần trực tiếp giao tiền cho bên bán, tổng số khoảng 1,7 tỷ đồng. Khi hoàn tất thủ tục nhận chuyển nhượng, giấy tờ nhà thể hiện cả ông T. và bà G. cùng đứng tên.

Gop-1-7-ty-tu-2010-de-mua-nha-cung-chau-ruot-nguoi-dan-ong-buc-xuc-khi-tai-san-chi-dung-ten-1-nguoi-1
Ảnh minh họa.

Đến năm 2012, trước thời điểm ông T. lập gia đình, bà G. đề nghị ông sang nhượng lại phần sở hữu trong căn nhà tại phường Thủ Đức. Đổi lại, bà hứa sẽ mua cho ông một căn nhà khác “tương đương giá trị”. Tin vì quan hệ họ hàng, ông T. đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng, nhưng không lập thêm bất cứ văn bản cam kết nào về việc mua nhà thay thế. Sau đó, theo ông T., lời hứa không được thực hiện, còn bà G. nắm toàn quyền quản lý, cho thuê và hưởng lợi từ căn nhà.

Từ năm 2014, ông T. khởi kiện, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ký năm 2012, đề nghị công nhận mình sở hữu một nửa nhà đất và yêu cầu được chia một nửa tiền cho thuê.

Ở chiều ngược lại, bà G. bác toàn bộ yêu cầu. Bà cho rằng mình mới là người bỏ toàn bộ tiền mua căn nhà, còn ông T. chỉ đứng tên giúp do thời điểm đó chưa lập gia đình và được nhờ trông coi tài sản. Bà G. nói sau khi ông T. kết hôn, ông đã tự nguyện chuyển nhượng lại căn nhà cho bà. Ngoài ra, bà còn cho biết từng hỗ trợ ông T. chi phí cưới hỏi, mua xe máy và đưa một khoản tiền làm vốn kinh doanh.

Trong quá trình giải quyết vụ việc, một số lời khai của người liên quan và nhân chứng bị đánh giá là không đồng nhất. Đáng chú ý, bên bán nhà xác nhận ông T. thực tế đã giao khoảng 1,7 tỷ đồng, đồng thời cho rằng hai bên góp mỗi người một nửa giá trị căn nhà, không có chuyện “đứng tên giùm” như lời bà G. nêu.

Theo bản án sơ thẩm ngày 23/4/2025, TAND TPHCM không chấp nhận các yêu cầu chính của ông T. và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện. Không đồng ý, ông T. kháng cáo toàn bộ.

Tại phiên phúc thẩm, đại diện Viện KSND TPHCM cho rằng cấp sơ thẩm xác định chưa đúng về thời hiệu và chưa bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của ông T., vì vậy đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm để xét xử lại. Vụ việc thu hút chú ý do đặt ra nhiều vấn đề pháp lý liên quan góp vốn mua nhà trong quan hệ gia đình và tranh chấp xoay quanh giao dịch chuyển nhượng.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng một nửa căn nhà giữa ông T. và bà G. đã hết thời hiệu. Tòa cho rằng việc mua bán đã hoàn tất, bà G. quản lý, sử dụng và cho thuê ổn định từ năm 2012 đến nay, đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Trong suốt khoảng 10 năm kể từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông T. không phát sinh khiếu nại hay tranh chấp. Vì vậy, căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 3 năm, tòa đánh giá việc cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu hủy hợp đồng là phù hợp.

Với yêu cầu công nhận ông T. sở hữu một nửa căn nhà và đồng sở hữu với bà G., tòa cho rằng có căn cứ thể hiện ông T. từng bỏ ra số tiền tương đương một nửa giá trị căn nhà khi mua chung năm 2010. Dù vậy, việc ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng phần sở hữu của mình cho bà G. vào năm 2012 là hợp pháp. Từ thời điểm hợp đồng được công chứng, quyền sở hữu của ông T. đã chuyển sang bà G., nên yêu cầu đòi lại quyền sở hữu không được chấp nhận.

Đối với yêu cầu chia một nửa tiền cho thuê nhà giai đoạn 2014-2025, tòa phúc thẩm nêu rõ ông T. không còn quyền sở hữu kể từ năm 2012, do đó không có cơ sở để đòi chia lợi nhuận phát sinh từ tài sản. Tòa cũng không đồng tình với quan điểm cho rằng hợp đồng chuyển nhượng là giao dịch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, vì nhận định này không phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ.

Từ các lập luận trên, tòa phúc thẩm kết luận kháng cáo của ông Hà Minh T. không có căn cứ và quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm.