Là vị vua thứ 13 và cũng là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, vua Bảo Đại có cuộc đời gắn với nhiều dấu mốc đặc biệt. Trong đó, con số 13 liên tục xuất hiện ở nhiều cột mốc quan trọng, từ năm sinh, tuổi đăng quang cho đến thời gian trực tiếp điều hành triều chính và số người con được ghi nhận.
Sinh năm 1913
Vua Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh ngày 22/10/1913 (tức ngày 23/9 năm Quý Sửu) tại kinh thành Huế. Ông là con trai của vua Khải Định và bà Hoàng Thị Cúc, người sau này được tôn phong là Thái hậu Từ Cung.
Ngày 28/4/1922, khi chưa tròn 9 tuổi, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được lập làm Đông cung Hoàng Thái tử, trở thành người kế vị của vua Khải Định.
Sau đó, ông được đưa sang Pháp học tập dưới sự chăm sóc của vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles. Trong thời gian ở Pháp, ông theo học tại Lycée Condorcet rồi Trường Khoa học Chính trị Paris (Sciences Po). Gần 10 năm học tập tại châu Âu đã góp phần hình thành phong cách sống mang nhiều ảnh hưởng phương Tây của vị vua cuối cùng triều Nguyễn.

Đăng quang khi được tính là 13 tuổi
Ngày 6/11/1925, vua Khải Định qua đời. Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy trở về nước để chịu tang và chuẩn bị kế vị.
Đến ngày 8/1/1926, ông chính thức đăng quang, lấy niên hiệu Bảo Đại. Theo cách tính tuổi dương lịch, khi đó ông mới hơn 12 tuổi, nhưng theo cách tính tuổi truyền thống của người Việt, ông được tính là 13 tuổi.
Sau lễ đăng quang, Bảo Đại không trực tiếp điều hành triều chính mà quay trở lại Pháp tiếp tục việc học. Mãi đến năm 1932, ông mới hồi hương và bắt đầu trực tiếp đảm nhiệm công việc của triều đình.

Vị vua thứ 13 của triều Nguyễn
Bảo Đại là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn - triều đại được thành lập từ khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802.
Trước ông lần lượt là các vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định.
Việc lên ngôi vào năm 1926 giúp Bảo Đại trở thành vị vua thứ 13 trong lịch sử triều Nguyễn, đồng thời cũng là vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam.

Có gần 13 năm trực tiếp điều hành triều chính
Nếu tính từ khi đăng quang năm 1926 đến lúc thoái vị năm 1945, Bảo Đại giữ ngôi vua khoảng 19 năm.
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1932, ông vẫn tiếp tục học tập tại Pháp, còn việc điều hành triều chính được giao cho Hội đồng Phụ chính dưới sự kiểm soát của chính quyền bảo hộ.
Đến tháng 9/1932, Bảo Đại mới chính thức trở về Huế để trực tiếp điều hành đất nước. Từ thời điểm đó đến khi thoái vị vào tháng 8/1945 là gần 13 năm.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 30/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại diễn ra tại Ngọ Môn (Huế). Sau khi đọc Chiếu thoái vị, ông trao ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" cùng thanh kiếm vàng nạm ngọc cho Chính phủ Cách mạng lâm thời, khép lại chế độ quân chủ tồn tại hàng thế kỷ tại Việt Nam.
Câu nói thường được nhắc lại trong sự kiện này là: "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ".
Có 13 người con được ghi nhận
Năm 1934, vua Bảo Đại kết hôn với bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Sau lễ thành hôn, bà được tấn phong Nam Phương Hoàng hậu.
Hai người có 5 người con gồm Hoàng thái tử Bảo Long, Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên, Công chúa Phương Dung và Hoàng tử Bảo Thăng.
Sau này, Bảo Đại còn có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác như bà Bùi Mộng Điệp, bà Lê Thị Phi Ánh, Lý Lệ Hà cùng một số phụ nữ mang quốc tịch nước ngoài.
Theo các tài liệu được công bố, vua Bảo Đại có tổng cộng 13 người con, bao gồm các con với Nam Phương Hoàng hậu và những người con ngoài hôn nhân.

Giai thoại về thời điểm hạ huyệt lúc 13 giờ
Những năm cuối đời, cựu hoàng Bảo Đại sinh sống tại Pháp. Ông qua đời ngày 31/7/1997 tại Bệnh viện Quân y Val-de-Grâce ở Paris, hưởng thọ 83 tuổi.
Tang lễ được tổ chức ngày 6/8/1997 tại nhà thờ Saint-Pierre-de-Chaillot trước khi linh cữu được đưa tới an táng tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris.


Theo một số giai thoại được nhắc lại trong các bài viết về vua Bảo Đại, trước thời điểm hạ huyệt, trời Paris bất ngờ đổ mưa khiến nước tràn xuống phần mộ. Sau khi việc xử lý hoàn tất, đồng hồ vừa điểm 13 giờ và linh cữu của vị vua cuối cùng triều Nguyễn được hạ xuống huyệt mộ vào đúng thời điểm này.