Việt Nam thuộc triều đại nào dưới thời Thiên Long Bát Bộ? Có vị tướng khiến Trung Quốc kiêng nể
“Thiên Long bát bộ” lấy bối cảnh vào triều đại nào của Trung Quốc? Thời kỳ đó, Việt Nam đang thuộc triều đại nào?
Thiên Long Bát Bộ là một trong những tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng nhất của Kim Dung. Tác phẩm xoay quanh cuộc đời và mối quan hệ phức tạp của các nhân vật như Kiều Phong, Đoàn Dự và Hư Trúc, trong bối cảnh nhiều quốc gia cùng tồn tại và xung đột.
Câu chuyện diễn ra vào thời Bắc Tống – giai đoạn lịch sử đầy biến động khi Trung Hoa phải đối mặt với các thế lực như Đại Liêu, Tây Hạ, Đại Lý và Thổ Phồn. Những yếu tố này tạo nên một “giang hồ” rộng lớn, nơi chính trị, chiến tranh và võ học đan xen.
Đáng chú ý, tác phẩm từng được chuyển thể thành nhiều phiên bản phim, trong đó nổi bật là bản truyền hình năm 1997 do TVB sản xuất, với sự tham gia của các diễn viên Huỳnh Nhật Hoa, Trần Hạo Dân, Phàn Thiếu Hoàng và Lý Nhược Đồng.
Trong khi bối cảnh Thiên Long Bát Bộ đặt tại Trung Hoa thời Bắc Tống (960–1127), thì ở phía Nam, Việt Nam lúc này đang bước vào một giai đoạn phát triển ổn định và độc lập dưới triều nhà Lý.
Quốc hiệu khi đó là Đại Việt, với kinh đô đặt tại Thăng Long. Đây được xem là một trong những thời kỳ đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển lâu dài của quốc gia.
Năm 1010, Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Quyết định này không chỉ mang ý nghĩa chiến lược mà còn mở ra thời kỳ phát triển lâu dài của vùng đất được xem là trung tâm chính trị – văn hóa của Việt Nam suốt hàng nghìn năm.
Triều Lý xây dựng bộ máy chính quyền chặt chẽ, củng cố nền quân chủ tập quyền. Đồng thời, quốc gia đã bảo vệ vững chắc chủ quyền trước các cuộc xâm lược, tiêu biểu là chiến thắng trên sông Như Nguyệt năm 1077 chống quân Tống.
Phật giáo phát triển cực thịnh và giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhiều công trình tôn giáo lớn được xây dựng, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của thời kỳ này.
Năm 1070, triều đình cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Đến năm 1075, khoa thi đầu tiên được tổ chức, mở đầu cho hệ thống khoa cử tuyển chọn nhân tài.
Nhà Lý ban hành bộ luật thành văn đầu tiên – Hình Thư (1042), đồng thời chú trọng phát triển nông nghiệp, thủy lợi với hệ thống đê điều quy mô lớn, góp phần ổn định đời sống người dân.
Lý Thường Kiệt có lẽ là cái tên gây ám ảnh nhất với nhà Tống khi đó. Ông là thiên tài quân sự, nhà chính trị, ngoại giao xuất sắc của Việt Nam. Sử cũ chép lại, Lý Thường Kiệt không chỉ có tướng mạo đẹp mà tài năng còn hơn người.
Năm 1072, Lý Nhân Tông nối ngôi Lý Thánh Tông khi chỉ mới 7 tuổi. Thái úy Lý Thường Kiệt khi đó đã đứng sau phò trợ ông xử lý chính sự. Trước sự dòm ngó của quân địch phương Bắc, năm 1073, Lý Thường Kiệt mạnh dạn đề xuất: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc”.
Và thế rồi 10 vạn quân Đại Việt đã đánh thẳng vào đất Tống, tàn phá 10 căn cứ quân sự của nhà Tống. Ý đồ xâm lược của quân Tống chưa kịp thực hiện đã bị dập tắt.
Sau này bình luận về trận đánh Tống có một không hai này, sử gia Ngô Thì Sĩ viết: “Bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ”.
Đến khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt cũng lường trước quân Tống sẽ kéo sang trả thù. Bởi vậy mà ông cho đắp phòng tuyến dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt, có rào giậu kiên cố, kéo dài hơn 200 dặm từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu.
Không lâu sau, cuối năm 1076, quân Tống vượt biên giới tràn vào Đại Việt. Trận đó quân ta chống trả quyết liệt, làm nên chiến thắng sông Như Nguyệt lừng lẫy, khiến địch phải tháo chạy hoặc đầu hàng.
Cũng trong trận chiến Như Nguyệt năm đó, bài thơ “Nam quốc sơn hà” xuất hiện. Người đời sau đưa ra giả thuyết Lý Thường Kiệt chính là tác giả của bài thơ này, gia tăng nhuệ khí cho quân ta, khiến nhà Tống run rẩy sợ hãi.
Ngàn đời sau, Lý Thường Kiệt vẫn luôn được đánh giá là bậc anh hùng có công lớn với đất nước, góp công lớn trong công cuộc phá Tống, bình Chiêm. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” năm nào cũng được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.