Vị bác sĩ được Bác Hồ chỉ định làm chủ tịch đầu tiên của Hà Nội năm 33 tuổi, nhận chức vẫn đi xe đạp
Một cuộc gặp tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang đã làm thay đổi cuộc đời bác sĩ Trần Duy Hưng. Từ một thầy thuốc trẻ, ông trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hà Nội và cũng là người giữ cương vị này lâu nhất.
“Không phải là ông quan cách mạng”
Năm 1981, trong cuộc phỏng vấn bằng tiếng Pháp do Tổ chức Giáo dục WGBH thực hiện, ở tuổi 69, ông trả lời chậm rãi, minh mẫn, không cần phiên dịch. Nhắc lại lần đầu gặp Hồ Chí Minh, ông kể Bác hỏi: “Tôi biết chú là bác sĩ, thế bây giờ chú ra làm chủ tịch thành phố, thì chú nghĩ thế nào?”.
Ông đáp thật lòng: “Thưa Bác, nếu đoàn thể và Bác cử cháu ra làm công tác y tế, thì cháu rất yên tâm, cháu xin làm hết sức. Nhưng cháu ra làm chủ tịch, thì cháu biết làm cái gì, đã bao giờ cháu làm chủ tịch thành phố đâu?”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh điềm đạm nói: “Thế thì bác, đã bao giờ bác làm Chủ tịch nước đâu, nhưng mà bác cháu chúng ta, dù là chủ tịch nước, dù là chủ tịch thành phố, hay những ai làm chủ tịch, ở xã, huyện thì cũng không phải là 'ông quan cách mạng' mà là người đầy tớ của nhân dân”.
Lời dạy ấy theo ông suốt cuộc đời làm quản lý.
Ở tuổi 33, giữa bộn bề “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, ông nhận trọng trách đứng đầu chính quyền Thủ đô. Hà Nội khi đó liên tiếp xảy ra ám sát, bắt cóc cán bộ Việt Minh; bản thân ông nhiều lần thoát hiểm trong gang tấc.
Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, ông là một trong 6 ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh giới thiệu tại Hà Nội. Theo Báo Cứu Quốc (12-1-1946), ông đạt 73,7% phiếu, chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ bác sĩ giữa chiến khu đến người tiếp quản Thủ đô
Tốt nghiệp xuất sắc Đại học Y Đông Dương, ông từng mở bệnh viện tư tại phố Hàng Bông – Thợ Nhuộm, thường xuyên chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và các chiến sĩ cách mạng.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông theo Bác lên Việt Bắc. Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, đặc biệt là kháng sinh, ông vừa đảm bảo sức khỏe cho các thành viên Chính phủ, vừa trực tiếp chăm sóc Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng gian khó.
Sau Hiệp định Geneve 21/7/1954, thực dân Pháp rút khỏi miền Bắc. Chiều 9/10/1954, quân ta kiểm soát Hà Nội; ngày 10/10, giữa rừng cờ đỏ sao vàng, hàng vạn người dân đón đoàn quân chiến thắng. Ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội, dẫn đầu đoàn quân tiến vào tiếp quản Thủ đô – hình ảnh ông đứng trên xe giơ tay chào nhân dân trở thành khoảnh khắc lịch sử.
Chủ tịch giữa lửa đạn
Sau đó, ông tiếp tục đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội. Thành phố đối diện hàng loạt nhiệm vụ: ổn định đời sống, chống đói, xóa mù chữ, củng cố bộ máy chính quyền.
Trên cương vị Trưởng ban Xóa nạn mù chữ, ông trực tiếp xuống các khu lao động ở Hai Bà Trưng, Đống Đa vận động người dân đi học buổi tối. Hà Nội trở thành điểm sáng của nhiều phong trào thi đua, từ sản xuất nông nghiệp đến công – thương nghiệp.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh ông xuất hiện tại các điểm bom rơi như Khâm Thiên, An Dương, Bệnh viện Bạch Mai, cùng lực lượng cứu hộ, y bác sĩ băng bó cho người bị thương, đã in đậm trong ký ức người dân, nhất là thời điểm 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận xét ông là “một con người của nhân dân, vì nhân dân, là một trí thức để lại tấm gương sáng cho các thế hệ trí thức cả hôm nay và mai sau học tập, noi theo”.
Giản dị giữa đời thường
Nhiều năm giữ cương vị Chủ tịch thành phố, ông không dùng ô tô riêng mà đạp xe đi làm, tự viết diễn văn, báo cáo. Ông thông thạo ngoại ngữ, thường trao đổi trực tiếp với các đại sứ mà không cần phiên dịch.
Ông dành nhiều thời gian tiếp dân, lắng nghe và giải quyết kịp thời từng kiến nghị cụ thể. Phong cách gần dân, liêm khiết, tận tụy ấy đã làm nên hình ảnh một vị Chủ tịch đầu tiên của Hà Nội được nhân dân tin yêu.
Từ cuộc gặp định mệnh ở 48 Hàng Ngang đến hơn hai thập niên chèo lái Thủ đô, bác sĩ Trần Duy Hưng đã để lại một di sản lớn hơn mọi chức danh: Đó là tấm gương của một “người đầy tớ của nhân dân”.