Vị quan liêm chính từng được Bác Hồ mời về làm việc, 4 đời gia tộc tài giỏi lừng lẫy Việt Nam
Tổng đốc Vi Văn Định (1878–1975) là một trong những quan lại triều Nguyễn được ghi nhận bởi lối sống liêm chính, cách hành xử gần dân. Ông cũng được hậu thế nhắc đến qua một gia đình nhiều thế hệ trí thức, có đóng góp lớn cho các lĩnh vực giáo dục, khoa học, y tế và văn hóa.
Tổng đốc (người đứng đầu một vùng hành chính lớn) Vi Văn Định sinh năm 1878 tại bản Chu, xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, trong một gia đình quý tộc người Tày có truyền thống trấn giữ biên cương. Dòng họ Vi từng được triều đình giao cai quản vùng biên giới phía Bắc qua nhiều triều đại. Từ thời Trần đến triều Nguyễn, họ Vi có người làm quan đến chức Đô đốc. Đến khi đất nước thái bình, vua Lê Thái Tổ đã phân phong cho họ Vi cùng 6 họ lớn khác làm thổ ty cha truyền con nối ở Lạng Sơn, vừa giữ biên cương, vừa gắn bó với đời sống cư dân miền núi.
Đến đời thứ 13, ông Vi Văn Lý giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ, Tổng đốc Lạng Sơn. Con trai ông là Vi Văn Định – nhân vật tạo nên nhiều dấu ấn trong lịch sử dân tộc đầu thế kỷ 20.
Tiếp nối truyền thống gia tộc, Vi Văn Định đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Tuần phủ Phúc Yên, Tuần phủ Hưng Yên, Tổng đốc Thái Bình (1929–1937), Tổng đốc Hà Đông. Ông được triều đình phong Hiệp tá Đại học sĩ, hàm Thái tử Thiếu Bảo.
Theo các tài liệu lưu trữ, trong quá trình cai quản địa phương, ông tập trung vào các công việc dân sinh như đắp đê, đào kênh, mở rộng sản xuất nông nghiệp, phòng chống trộm cắp, hạn chế cờ bạc, mê tín. Một số chủ trương nổi bật của ông có thể kể đến như cấm đốt pháo dịp Tết để tránh tai nạn, lập quán trọ cho học sinh vùng xa, hỗ trợ việc làm cho những người từng tham gia hoạt động chính trị nhưng không bị kết án, được ghi nhận là mang tính xã hội rõ nét.
Năm 1942, Vi Văn Định rời quan trường, trở về quê. Trước Hội nghị Fontainebleau năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị ông Hoàng Hữu Nam (Thứ trưởng Bộ Nội vụ) cho người lên Lạng Sơn mời ông Vi Văn Định ra Hà Nội. Sau đó, ông nhận lời mời của Bác, chính thức tham gia chính quyền cách mạng.
Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình ông sinh sống tại An toàn khu ở Việt Bắc, gần Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1949, chính Bác đã đặt tên cho con gái út của ông Vii Văn Định là Hạ Yên, ý muốn nói về những ngày tháng kháng chiến gian khổ ở xã Hạ Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1951, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Liên Việt, tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Kháng chiến thành công, ông Vi Văn Định về Hà Nội sống và làm Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đến cuối đời. Căn biệt thự của ông tại số 20 Trần Bình Trọng được hiến cho Nhà nước, còn bản thân chấp nhận thuê nhà sống ở phố Nguyễn Gia Thiều.
Năm 1975, ông qua đời ở tuổi 96. Di chúc của ông yêu cầu tổ chức tang lễ giản dị, không phô trương, không mê tín.
Bên cạnh sự nghiệp cá nhân, gia đình Tổng đốc Vi Văn Định được biết đến với nhiều con cháu và con rể là các trí thức tiêu biểu. Ông có ba người vợ và 17 người con. Khi ông làm Tổng đốc Thái Bình, gia đình thuộc diện giàu có nhất vùng, nhưng sự giàu có đó không nằm ở của cải mà chính là truyền thống hiếu học và nhân cách cao đẹp.
Trong số các con gái, bà Vi Kim Ngọc là giảng viên bộ môn Ký sinh trùng, Trường Đại học Y Hà Nội, được trực tiếp đào tạo bởi Giáo sư Đặng Văn Ngữ. Ngày trẻ bà nổi tiếng xinh đẹp, giỏi đủ cầm, kỳ, thi, họa. Bà được nhắc đến như hình mẫu một người phụ nữ trí thức mẫu mực.
Bà Vi Kim Ngọc kết hôn với Giáo sư Nguyễn Văn Huyên – người Việt Nam đầu tiên bảo vệ tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne và là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong suốt 29 năm (từ 1946 đến 1975).
Cuộc hôn nhân của bà Vi Kim Ngọc với Giáo sư Nguyễn Văn Huyên càng làm gia đình Tổng đốc Vi Văn Định thêm phần danh giá. Nguyễn Văn Huyên là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne (Pháp), từng được biết đến như một “ông Nghè Tây học” nổi tiếng nhưng lựa chọn con đường giảng dạy, nghiên cứu khoa học thay vì ra làm quan. Về sau, ông đảm nhiệm cương vị Tổng giám đốc Đại học vụ và là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức vụ này suốt 29 năm (1946–1975). Chị cả của ông là bà Nguyễn Thị Mão, phu nhân ông Phan Kế Toại, được ghi nhận là nữ giáo viên dạy toán đầu tiên của Hà Nội.
Bốn người con của ông bà đều có sự nghiệp riêng: Nguyễn Kim Nữ Hạnh – nguyên kỹ sư thông tin Tổng cục Đường sắt; PGS.TS Hóa học Nguyễn Kim Bích Hà; Đại tá, PGS.TS Y khoa, thầy thuốc nhân dân, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Nguyễn Kim Nữ Hiếu; và con út Nguyễn Văn Huy – nhà nghiên cứu dân tộc học, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Gia đình còn có con rể là Giáo sư Nguyễn Lân Dũng – chồng bà Nguyễn Kim Nữ Hiếu, nhà khoa học được nhiều thế hệ biết đến; cháu ngoại là PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Một người con rể khác của Tổng đốc Vi Văn Định là Giáo sư Hồ Đắc Di, danh y xuất thân từ dòng họ quyền quý ở cố đô Huế, kết hôn với bà Vi Kim Phú. Trước năm 1945, ông là người Việt Nam bản xứ duy nhất trong toàn Đông Dương được Toàn quyền Pháp phong hàm giáo sư đại học.
Con gái của Giáo sư Hồ Đắc Di là bà Hồ Thể Lan, từng giữ chức Vụ trưởng Vụ Báo chí, Bộ Ngoại giao và là phu nhân của cố Phó Thủ tướng Vũ Khoan. Các cháu ngoại của ông sau này đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong ngành ngoại giao.
Chàng rể nổi tiếng khác của Tổng đốc Vi Văn Định là Giáo sư – bác sĩ Tôn Thất Tùng, nhà khoa học y học hàng đầu, tác giả hàng chục công trình nghiên cứu quốc tế, người đặt nền móng cho ngành ngoại khoa hiện đại của Việt Nam. Ông kết hôn với bà Vi Thị Nguyệt Hồ, nữ y tá xuất sắc, người sáng lập Hội Điều dưỡng Việt Nam. Vợ chồng ông có ba người con, trong đó tiêu biểu là PGS.TS.BS Tôn Thất Bách.
Con trai của Tổng đốc Vi Văn Định là ông Vi Văn Kỳ từng công tác tại Bộ Nội vụ. Các thế hệ con cháu khác trong gia đình tiếp tục có nhiều đóng góp trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học và y tế.
Tổng đốc Vi Văn Định được ghi nhận không chỉ bởi vai trò một quan chức hành chính ở giai đoạn lịch sử nhiều biến động, mà còn bởi dấu ấn của một gia đình trí thức nhiều thế hệ, gắn bó với con đường học vấn, phụng sự xã hội và đất nước.