Đời sống

Lãi suất bùng nổ đầu tháng 3: 12 tháng chạm 7%, xuất hiện mức 9%/năm

Bước sang tháng 3/2026, thị trường huy động vốn chứng kiến sự sôi động trở lại khi nhiều ngân hàng thương mại đồng loạt điều chỉnh biểu lãi suất. Đáng chú ý, ở một số tổ chức, lãi suất kỳ hạn 12 tháng đã tiệm cận hoặc vượt mốc 7%/năm, thậm chí xuất hiện mức 9%/năm nhưng đi kèm điều kiện đặc biệt.

Mặt bằng lãi suất kỳ hạn trung - dài hạn áp sát ngưỡng 7%

So với giai đoạn trước, mặt bằng lãi suất được điều chỉnh tăng phổ biến từ 0,01 - 0,3%/năm tùy từng kỳ hạn. Riêng một số ngân hàng tư nhân ghi nhận mức tăng mạnh hơn, đưa lãi suất trung và dài hạn vào vùng 6 - 7%/năm.

Thiết kế chưa có tên (161)

Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank - mã CK: LPB) vừa nâng biểu lãi suất tiền gửi online thêm 0,6 - 0,9 điểm phần trăm mỗi năm so với trước đó. Theo biểu mới, kỳ hạn 1-2 tháng được áp dụng mức 4,7%/năm; 3 - 5 tháng là 4,75%/năm; 6 - 11 tháng tăng lên 6,8%/năm. Các khoản gửi từ 12 - 13 tháng hưởng 7%/năm, 15 - 18 tháng đạt 7,1%/năm và nhóm 24 - 60 tháng lên tới 7,2%/năm. Mức lãi này thuộc nhóm cao nhất thị trường ở các kỳ hạn dài.

Ngân hàng TMCP Thịnh vượng và Phát triển (PGBank - mã CK: PGB) hiện triển khai mức lãi 7,1%/năm đối với tiền gửi kỳ hạn 6 - 9 tháng. Với kỳ hạn 12 - 13 tháng, lãi suất được nâng lên 7,2%/năm, trong khi nhóm 18 - 36 tháng ở mức 6,8%/năm. Đáng chú ý, mức 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng đang nằm trong nhóm cao nhất trên thị trường.

Tại Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV), lãi suất tiền gửi 6 - 11 tháng được niêm yết 6,5%/năm, còn các khoản gửi từ 12- 36 tháng hưởng mức 7,2%/năm.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank - mã CK: BVB) áp dụng biểu lãi tăng dần theo kỳ hạn: 12 tháng 6,6%/năm; 15 tháng 6,9%/năm; 18 tháng 7%/năm và 24 tháng lên 7,1%/năm.

Đối với Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank), mức lãi 6,5%/năm được áp dụng cho kỳ hạn 6 - 11 tháng; 12 tháng là 6,55%/năm; 13 - 15 tháng đạt 6,6%/năm và 18 - 36 tháng ở mức 6,7%/năm. Một số kỳ hạn dài của ngân hàng này tiệm cận vùng 7 - 7,1%/năm.

Còn tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB - mã CK: OCB), lãi suất dao động từ 6,2%/năm cho kỳ hạn 6 - 9 tháng, tăng dần lên 6,5%/năm với 12 - 15 tháng; 6,7%/năm cho 18 tháng; 6,8%/năm cho 21 tháng; 6,9%/năm cho 24 tháng và đạt 7,1%/năm ở kỳ hạn 36 tháng. Trường hợp khách hàng gửi từ 500 triệu đồng trở lên, lãi suất kỳ hạn 36 tháng được nâng lên 7,3%/năm.

Ở khối ngân hàng số, Vikki Bank đang triển khai mức lãi suất 6,5%/năm đối với kỳ hạn 6 tháng, còn các khoản gửi từ 12 - 13 tháng được hưởng 6,6 - 6,7%/năm. Trong khi đó, Cake by VPBank công bố 7,3%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 7,1%/năm áp dụng cho các kỳ hạn từ 7 - 36 tháng. Trường hợp khách hàng đáp ứng điều kiện về số tiền gửi để nhận thêm ưu đãi, mức sinh lời tối đa có thể nâng lên 8,1%/năm.

Có thể thấy, mốc 7%/năm đang trở thành ngưỡng cạnh tranh phổ biến trong nhóm ngân hàng tư nhân ở các kỳ hạn 12 - 24 tháng.

Bên cạnh biểu lãi suất thông thường, một số nhà băng tung ra mức 8 - 9%/năm dành cho khách hàng sở hữu khoản tiền gửi đặc biệt lớn.

Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB, mã CK: MSB) đang niêm yết mức lãi suất lên tới 9%/năm cho kỳ hạn 13 tháng. Ưu đãi này áp dụng với khách hàng mở mới hoặc tái tục khoản tiền gửi 12 - 13 tháng, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 500 tỷ đồng.

Tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank), lãi suất 9%/năm được triển khai cho kỳ hạn 12 - 13 tháng khi gửi tiền trực tiếp tại quầy, yêu cầu khách hàng đảm bảo mức tiền gửi tối thiểu 2.000 tỷ đồng trong suốt thời gian gửi.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank, mã CK: HDB) áp dụng lãi suất 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và 7,7%/năm cho 12 tháng, dành cho các khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng trở lên. Cùng xu hướng, Vikki Bank công bố mức 8,4%/năm đối với các kỳ hạn từ 13 tháng, với điều kiện số tiền gửi tối thiểu đạt 999 tỷ đồng.

Như vậy, các mức lãi suất 8 - 9%/năm chỉ dành cho nhóm khách hàng có quy mô tiền gửi rất lớn và đi kèm điều khoản cụ thể.

Trái ngược với xu hướng tăng, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB, mã CK: ACB) thậm chí còn hạ 0,2 - 0,95 điểm phần trăm/năm đối với tiền gửi online trên ứng dụng ACB One. Sau điều chỉnh, lãi suất kỳ hạn 1 tháng còn 4,3%/năm; 2 tháng 4,4%/năm; 6 - 8 tháng ở mức 5,2%/năm; 9 - 11 tháng 5,3%/năm và 12 tháng là 5,7%/năm. Dù vậy, ngân hàng này vẫn áp dụng mức 6,3%/năm cho khoản tiền gửi tối thiểu 200 tỷ đồng với kỳ hạn 13 tháng.

Trước ACB, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã CK: STB) cũng đã giảm lãi suất trong tháng 2. Động thái trái chiều này cho thấy mỗi ngân hàng đang theo đuổi chiến lược huy động vốn riêng, thay vì đồng loạt tăng lãi suất.

Bức tranh lãi suất xuất hiện sự chia hóa rõ rệt

Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng có vốn nhà nước vẫn giữ mặt bằng lãi suất ổn định. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đang áp dụng mức 2,4%/năm cho kỳ hạn 1 - 2 tháng; 2,7%/năm cho 3 - 5 tháng; 3,8%/năm cho 6 - 11 tháng; 5,2%/năm cho 12 - 18 tháng và 5,3%/năm cho 24 tháng.

Tương tự, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank, mã CK: VCB) niêm yết 3,5%/năm đối với kỳ hạn 6 - 9 tháng; 5,2%/năm cho 12 tháng và 5,3%/năm với các kỳ hạn từ 24 tháng trở lên. Biểu lãi suất tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV, mã CK: BID) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, mã CK: CTG) cũng duy trì ở mức tương đương.

Thay vì tăng mạnh lãi suất, các ngân hàng lớn tập trung triển khai chương trình khuyến mại nhằm giữ chân khách hàng. VietinBank tổ chức quay số trúng ôtô VinFast VF5 và sổ tiết kiệm cho khách hàng gửi từ 1 triệu đồng, còn Agribank trao hơn 5.500 phần quà trong chương trình kéo dài đến hết tháng 3/2026.

Diễn biến đầu tháng 3 cho thấy thị trường tiền gửi đang chuyển sang giai đoạn cạnh tranh rõ nét hơn. Nhóm ngân hàng tư nhân gia tăng lãi suất, đặc biệt ở kỳ hạn trung và dài hạn, trong khi các ngân hàng quy mô lớn giữ ổn định mặt bằng và đẩy mạnh ưu đãi ngoài lãi suất.

Sự phân hóa này phản ánh chiến lược huy động vốn ngày càng khác biệt giữa các khối ngân hàng trong bối cảnh nhu cầu vốn và áp lực thanh khoản thay đổi.