Cập nhật thông tin về loạt quy định xử phạt giao thông mới có hiệu lực từ 15/8 mà nhiều người chưa biết
Từ ngày 15/8/2026, Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 168/2024/NĐ-CP chính thức được áp dụng. Nhiều quy định liên quan đến người chưa thành niên điều khiển xe mô tô, thiết bị an toàn cho trẻ em, xe cá nhân chở khách thu tiền và thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã có sự điều chỉnh đáng chú ý.
Điều chỉnh quy định xử phạt người từ 16 đến dưới 18 tuổi lái xe mô tô
Điều 6 Nghị định 238/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Theo quy định mới, đối tượng bị xử phạt là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô hoặc phương tiện tương tự xe mô tô.
Mức tiền phạt vẫn được giữ nguyên từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng theo khoản 4 Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Điểm thay đổi nằm ở cách mô tả và xác định hành vi vi phạm. Kể từ ngày 15/8/2026, quy định không còn nêu điều kiện về dung tích xi-lanh từ 50 cm³ trở lên hoặc công suất động cơ điện từ 4 kW trở lên. Thay vào đó, điều khoản mới gọi trực tiếp nhóm phương tiện là xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô.
Như vậy, việc xử phạt sẽ dựa trước tiên vào cách phương tiện được pháp luật phân loại, thay vì chỉ căn cứ vào ngưỡng dung tích xi-lanh hoặc công suất động cơ được ghi cụ thể trong điều khoản.
Không dùng thiết bị an toàn cho trẻ em sẽ bị phạt cảnh cáo
Khoản 1 Điều 2 Nghị định 238/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP. Theo đó, người điều khiển ô tô chở trẻ em dưới 10 tuổi, đồng thời có chiều cao dưới 1,35 mét, nhưng không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ sẽ bị phạt cảnh cáo. Quy định này không áp dụng đối với ô tô kinh doanh vận tải hành khách.
Bên cạnh yêu cầu sử dụng thiết bị an toàn, khoản 2 Điều 2 Nghị định mới còn sửa đổi điểm m khoản 3 Điều 6, tiếp tục xử lý trường hợp để trẻ em thuộc nhóm tuổi và chiều cao nêu trên ngồi cùng hàng ghế với người lái xe. Ngoại lệ được áp dụng đối với ô tô chỉ có một hàng ghế.
Như vậy, khi chở trẻ nhỏ bằng ô tô gia đình, ô tô cá nhân hoặc phương tiện không kinh doanh vận tải hành khách, tài xế phải thực hiện đồng thời hai yêu cầu.
Một là, trẻ dưới 10 tuổi và thấp hơn 1,35 mét phải được sử dụng thiết bị an toàn phù hợp. Nếu vi phạm, người lái xe bị phạt cảnh cáo.
Hai là, không bố trí trẻ thuộc nhóm này ngồi cùng hàng ghế với tài xế, trừ ô tô chỉ có duy nhất một hàng ghế. Hành vi vi phạm quy định về vị trí ngồi thuộc khoản 3 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP và có mức phạt từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng.
Xe cá nhân chở khách thu tiền có thể bị phạt 14 triệu đồng
Khoản 3 Điều 7 Nghị định 238/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 8a vào sau khoản 8 Điều 20 Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
Theo quy định này, người lái ô tô không đăng ký kinh doanh vận tải hành khách nhưng thực hiện việc chở người có thu tiền, ký hợp đồng hoặc nhận đặt chỗ để vận chuyển hành khách sẽ bị phạt từ 12 triệu đồng đến 14 triệu đồng.
Ngoài tiền phạt, khoản 4 Điều 7 còn quy định người vi phạm bị trừ 6 điểm trên giấy phép lái xe.
Quy định trên là căn cứ để xử lý các phương tiện cá nhân hoạt động vận chuyển hành khách có thu tiền nhưng không tổ chức theo đúng loại hình kinh doanh vận tải, chẳng hạn xe ghép nhận khách, xe cá nhân chạy dịch vụ trá hình hoặc nhận đặt chỗ qua mạng xã hội.
Chủ tịch UBND cấp xã được phạt tối đa 37,5 triệu đồng
Thẩm quyền xử lý vi phạm giao thông của Chủ tịch UBND cấp xã cũng được mở rộng kể từ ngày 15/8/2026. Cụ thể, Điều 13 Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 42 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, cho phép Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện các biện pháp gồm:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 37,5 triệu đồng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động trong thời hạn nhất định;
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Theo quy định trước đây tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã chỉ có thẩm quyền phạt tiền tối đa 5 triệu đồng và tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị không vượt quá 10 triệu đồng. Mức phạt tối đa 37,5 triệu đồng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện.
So với quy định cũ, mức tiền phạt tối đa thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã đã tăng 7,5 lần. Cấp xã cũng được bổ sung quyền tước giấy phép, đình chỉ hoạt động có thời hạn và tịch thu tang vật, phương tiện mà không còn giới hạn giá trị tối đa 10 triệu đồng.
Đối với Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thẩm quyền xử lý gồm phạt cảnh cáo; phạt tiền tối đa 75 triệu đồng; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.