Diễn biến mới ‘bán đất không bán nhà’ ở Tây Ninh: Lý do tòa phải tạm hoãn thi hành án tới 3 tháng
Chánh án TAND Tối cao vừa có văn bản gửi Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đề nghị tạm hoãn thi hành án trong thời hạn 3 tháng vụ ‘chuyển nhượng đất nhưng không bán nhà’.
Liên quan vụ việc gây chú ý với tình huống “chuyển nhượng đất nhưng không bán nhà” tại Tây Ninh, Chánh án TAND Tối cao vừa có văn bản gửi Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đề nghị tạm hoãn thi hành án trong thời hạn 3 tháng để xem xét đơn đề nghị của đương sự.
Theo nội dung văn bản, việc hoãn thi hành án được thực hiện căn cứ theo khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cùng khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự. Quyết định này áp dụng đối với bản án phúc thẩm số 49/2025/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Tây Ninh.
Trước đó, vụ tranh chấp giữa bà M.T.T.Th và ông N.V.T liên quan đến căn nhà và quyền sử dụng đất tại phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã thu hút sự quan tâm dư luận. Hồ sơ thể hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2002 chỉ mang tên ông T, trong khi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lại ghi tên cả hai người.
Theo trình bày của bà Th, sau khi hai bên chấm dứt cuộc sống chung, ông T không còn sinh sống tại căn nhà này. Bà tiếp tục quản lý và cho một người khác thuê lại.
Đến năm 2024, ông T thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai và được cấp giấy chứng nhận mới chỉ thể hiện quyền sử dụng đất. Sau đó, ông chuyển nhượng cho bà L và người này hiện đã đứng tên trên giấy chứng nhận.
Cho rằng quyền lợi bị ảnh hưởng, bà Th khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông T và bà L, đồng thời đề nghị tòa phân chia tài sản chung là căn nhà và phần đất nói trên, với mong muốn được nhận hiện vật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T thừa nhận nhà và đất là tài sản chung của hai người. Tuy nhiên, ông cho biết đã bán cả nhà lẫn đất cho bà L với giá thực tế 2,5 tỷ đồng, dù hợp đồng công chứng chỉ ghi 1,5 tỷ đồng nhằm giảm nghĩa vụ thuế.
Phía bà L cũng xác nhận nội dung này và cho biết trước khi giao dịch đã trực tiếp đến xem nhà đất, đồng thời đề nghị cán bộ địa chính tiến hành đo đạc hiện trạng.
Điểm đáng chú ý là hợp đồng được công chứng chỉ thể hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không bao gồm căn nhà trên đất. Đại diện văn phòng công chứng cho rằng tại thời điểm ký kết, thửa đất đáp ứng đủ điều kiện chuyển nhượng, các bên tự nguyện thực hiện giao dịch nên việc công chứng đúng quy định.
Ở cấp sơ thẩm, tòa án giao toàn bộ nhà và đất cho ông T sở hữu, đồng thời buộc ông thanh toán cho bà Th một nửa giá trị khối tài sản chung. Bản án cũng yêu cầu ông T cùng người thuê nhà phải bàn giao bất động sản cho bà L.
Sau khi các bên kháng cáo, cấp phúc thẩm nhận định khi làm thủ tục chuyển nhượng, ông T chỉ xuất trình giấy xác nhận độc thân và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không cung cấp giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu nhà ở. Vì vậy, bà L và văn phòng công chứng không biết còn tồn tại giấy chứng nhận sở hữu nhà đứng tên hai người.
HĐXX cho rằng bà L là bên nhận chuyển nhượng ngay tình, công khai nên việc công nhận hiệu lực hợp đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, xét công sức đóng góp của bà Th, tòa phúc thẩm điều chỉnh tỷ lệ phân chia tài sản, xác định bà Th được nhận 60% giá trị tài sản bằng tiền. Nhà và đất tiếp tục được giao cho ông T quản lý để thực hiện nghĩa vụ bàn giao cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng.
Không đồng tình với phán quyết phúc thẩm, bà Th đã gửi đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.