Đời sống

Cập nhật những quy định mới quan trọng về nhà ở xã hội có hiệu lực từ ngày 9/2 bạn không nên bỏ qua

Dưới đây là những thay đổi mới vừa được sửa đổi và bổ sung liên quan lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày 9/2.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 54/2026 ngày 9/2, sửa đổi và bổ sung một số quy định liên quan lĩnh vực nhà ở, kinh doanh bất động sản. Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày 9/2.

Theo nội dung điều chỉnh, nhóm chính sách về nhà ở xã hội được cập nhật theo hướng mở rộng điều kiện được hưởng, chuẩn hóa quy trình thủ tục, đồng thời tăng yêu cầu công khai, minh bạch khi triển khai.

Quy-dinh-moi-ve-nha-o-xa-hoi-3

Mở rộng cách xác định “chưa có nhà ở”

Nghị định 54/2026 sửa đổi khoản 1 Điều 29 Nghị định 100/2024, bổ sung cách xác định điều kiện “chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình”. Theo đó, người thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của người đó được xem là “chưa có nhà” khi không có tên, hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội. Việc xác định điều kiện này không phụ thuộc thời điểm nộp hồ sơ mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội.

Về thẩm quyền xác nhận điều kiện nhà ở, nghị định giao cho cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo pháp luật đất đai. Trong thời hạn 7 ngày kể từ khi tiếp nhận đề nghị xác nhận, cơ quan này phải thực hiện việc xác nhận theo quy định.

Quy-dinh-moi-ve-nha-o-xa-hoi-1

Chuyển thẩm quyền xác nhận thu nhập sang Công an cấp xã

Nghị định 54/2026 tiếp tục sửa đổi khoản 2 Điều 30 Nghị định 100/2024 đối với điều kiện thu nhập. Điểm mới là thẩm quyền xác nhận thu nhập được chuyển từ UBND cấp xã sang Công an cấp xã nơi công dân thường trú, tạm trú hoặc nơi ở hiện tại.

Người đề nghị được yêu cầu kê khai và cam kết về thu nhập bình quân hằng tháng. Công an cấp xã sẽ phối hợp các cơ quan liên quan để xác minh, hậu kiểm thông tin thu nhập khi cần thiết.

Đơn đề nghị xác nhận điều kiện thu nhập đồng thời được xem là giấy tờ chứng minh đối tượng thuộc diện hưởng chính sách nhà ở xã hội. Mức trần thu nhập vẫn áp dụng theo quy định hiện hành, gồm người độc thân không quá 15 triệu đồng/tháng và người đã kết hôn có tổng thu nhập không quá 30 triệu đồng/tháng.

Bổ sung quy trình bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội không dùng vốn đầu tư công

Nghị định 54/2026 điều chỉnh toàn diện Điều 38 Nghị định 100/2024 về trình tự, thủ tục bán, cho thuê mua và cho thuê nhà ở xã hội không sử dụng vốn đầu tư công. Quy định mới yêu cầu chủ đầu tư phải công khai thông tin dự án trên trang thông tin điện tử của Sở Xây dựng, chính quyền địa phương, báo là cơ quan ngôn luận của địa phương, cùng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về nhà ở, thị trường bất động sản.

Hồ sơ đăng ký được phép nộp theo nhiều hình thức, gồm nộp trực tiếp, nộp trực tuyến, gửi qua bưu chính, hoặc nộp thông qua cơ quan, đơn vị nơi người lao động đang làm việc. Thời gian tiếp nhận hồ sơ tối thiểu là 30 ngày.

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp danh sách hồ sơ và gửi Sở Xây dựng để kiểm tra tình trạng hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở. Sau đó, chủ đầu tư công khai danh sách hồ sơ đủ điều kiện và tổ chức bốc thăm nếu số hồ sơ vượt quá chỉ tiêu.

Việc ưu tiên thực hiện theo nhóm đối tượng được Luật Nhà ở quy định, trong đó thứ tự ưu tiên gồm người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ, người khuyết tật, người thuộc diện tái định cư và nữ giới. Sau khi ký hợp đồng mua bán, thông tin giao dịch phải được cập nhật và công khai theo quy định.

Quy-dinh-moi-ve-nha-o-xa-hoi-2

Điều chỉnh quy định chuyển tiếp với nhà ở xã hội đang cho thuê

Nghị định cũng sửa quy định chuyển tiếp đối với nhà ở xã hội đang cho thuê theo hướng cho phép chủ đầu tư ưu tiên bán cho người đang thuê đủ điều kiện, nếu người thuê có nhu cầu mua trước mốc 10 năm. Trường hợp không bán cho người thuê, chủ đầu tư được bán lại cho Quỹ nhà ở quốc gia.

Giá bán nhà ở xã hội đang cho thuê được xác định dựa trên giá bán đã thẩm định, cộng lãi vay bình quân hằng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước tương ứng với thời gian thuê, và trừ phần giá trị khấu hao theo thời gian đã thuê.